ĐỪNG DÂM CHẾT HÒA BÌNH - THƠ FERRUCCIO BRUGNARIO

By

 Đừng nhai sống Hoà Bình
Đừng đáp lại những núi cao
                                     xác chết
Bằng những núi đầy xác chết
                                     cao hơn !
Hãy đưa cái đói xa đi khỏi ánh  mắt nhìn
                                    của triệu triệu
  trẻ thơ khốn khổ !
Hãy thắp sáng lên nụ cười hớn hở
           trên mảnh đất Palestin
                     làm vang lên tiếng hát thanh bình!

Đừng đâm chết!
x
in đừng đâm chết Hoà Bình
                     từ phía sau lưng!
 

Hãy cởi đi chiếc áo choàng cô đơn
                    của nhân dân Cuba
                    của nhân dân Irak !

Hãy đánh sập cái màn đêm sâu
mịt mù giá tuyết     
                          
nơi  thất thểu lang thang
                     triệu triệu dân lành!

Chớ trả lời
          đừng trả lời người chết
                bằng những lò thiêu
                         muôn vạn khác sinh linh!

Hãy cắn chặt môi
           hãy nén chặt  tim mình
Đừng tán dương  chiến tranh
Không tán dương chiến tranh !
                       
                       Ferruccio Brugnario
            
                       Tạp chí LE MENSUEL Bruxelles số 298 tháng 1/2002

                       Người dịch : Hoàng Hữu  Đản 

More...

CÁI DẢI MŨ POMPADOUR MỘT CUỐN SÁCH CỦA NIỀM TIN VÀ LÒNG NHÂN HẬU

By



            Nhân kỷ niệm lần thứ 23 ngày mất cùa Nhà Thơ MAURICE CARÊME (Bỉ)
                             
                                    13 / 01 / 1978 – 13 / 01 / 2001
 
  
                                          Nhà thơ MAURICE CAREÂME 

       Không ở đâu bằng ổ cuớn CÁI DẢI MŨ POMPADOUR  phong cách kể truyện của Maurice Carême tỏ ra thật là siêu đẳng và có tác dụng rung động lòng độc giả  đến thế. Nội dung các truyện kể vẫn là câu truyên đời thường không phải chuyện  riêng của trẻ con mà của toàn xã hội cũng không phải dành riêng cho  trẻ con mà cho cả mọi người. 
Cuôc sống con người không phải chỉ giới hạn  ở sự ăn mặc đi lại học hành lao động nghỉ ngơi giao tiếp và những hoạt động thấy được nghe đưôc sờ được mà thôi. Con người cón có một cái đầu óc để tư duy một trí tưởng tượng để mơ mộng và một trái tim để yêu thương và  giân hờn yêu cái đáng yêu và giận cái đáng giận. Hành động cụ thể xảy ra trong một thời gian và một nơi chốn nhất định Nhưng tư duy tưởng tưởng và tình cảm con người- tức là hoạt độngtâm linh- thì vượt ra ngoài mọi giới hạn không gian và thời gian đả đành  mà tự thân nó cũng phát triển  không giới hạn..

       Tôi đọc truyện đầu tiên NHỮNG HẠT DẺ. Trong chiến tranh một bé gái người Bỉ sơ tán sang  một vùng biên giới nước Pháp. Mẹ em ốm bệnh. Hằng ngày em ra cửa hiệu thực phẩm mua bánh bit-cốt về cho mẹ thấy trong một chiếc thẩu thuỷ tinh bày bán những hạt dẻ mà em thích. Nhưng không có tiền em đành rỏ nước bọt nhìn cho đờ thèm rồi về. Ngày nào cũng vậy. Một hôm em không thấy cái thẩu hạt dẻ đâu em buồn thì bỗng em đụng phải  cái gì dười chân em. Em cúi xuống: một thẩu đầy hạt dẻ! Không suy nghĩ lâu em cúi xuống xọc  hai tay vào  bốc luôn hai  nắm to ấp vào chiếc tạp-dề của mình.  Bà chủ quán trông thấy mắng em : -“ Có phải ở nước cô   bọn con gái nhỏ có cái mốt vào chôm đồ trong các cửa hàng không hả?”  -“Nhưng đây không phải là ăn cắp ! Những hạt dẻ này là từ nước tôi mang đến. Người ta đã hái chúng ở núi Hoàng Dương!”  Đọc tới đây cùng một lúc tình cảm và tư duy tôi bị xúc động.  Đây là lời một em bé sao ?  Không mua ngang nhiên bốc hai nắm hạt dẻ trong một cửa hàng bà chủ cửa hàng bắt được mắng -  không phải mắng em mà mắng “bọn con gái nhỏ nước em có cái mốt vào các cửa hàng chôm đồ” Em đã phản đối rành mạch dụa trên một thứ lẽ phải bẩm sinh lắng sâu trong tiềm thức  mà vẫn theo y thức bản năng ấy em nghĩ rằng như em mọi người đều phải có. Và em đã nhân danh không phải  cá nhân em mà là nhân danh bọn con gái  nước   em dõng dạc tuyên bố : "Đây không phải là ăn cắp” vì hạt dẻ này người ta ( tức nước ngoài) đã lấy  từ núi Hoàng Dương của nước em – Nói cách khác em khẳng định theo quan niệm nhân bản bé thơ của em :  hạt dẻ la hạt dẻ của nước em em có quyền  sử dụng hợp pháp chứ không phải là ăn cắp ; còn các người lấy hạt dẻ của nước em đem về bán tại nước các người mới là bất hợp pháp   mới thực sự là ăn cắp! Nhưng em đa lịch sự không nói toạc ra thôi.
 
       Đây là cái điều vừa bình thường vừa đáng kinh ngạc trong tư duy của một em bé. Và  chi tiết sau đây mới là cái sâu sắc đáng kinh ngạc trong tình cảm của em. Bị mắng em đã phải trả lại hạt dẻ vào trong thẩu. Về nhà thay áo em thấy có cái gì cồm cộm. Thì ra là một hạt dẻ còn sót lại Em run rẩy vừa vuốt ve nó bằng đầu ngón tay vừa bỗng nhiên  thấy như  do một phép lạ nào đó mà nó được treo lên trên  một cành cây nhỏ của núi Hoàng Dương dưới một bầu trời xán lạn và rộng hơn cả bầu trời bao la….Rồi em làm một cái túi nhỏ đựng hạt dẻ  buộc nó vào sợi dây chuyền em mang ở cổ giữa chiếc bùa bảo vệ sức khoẻ và cái tượng Đức Bà La Loriette quan thầy của quê  em. Từ nay em không còn phải đứng lại ở trước cửa tiệm bánh nữa : “Chả phải là  tôi đang mang cả quê hương tôi trên ngực là gì đây? “  Maurice Carême phải là một con người  như thế nào mới xây dựng nên được  hình tượng một em bé biết yêu nước một cách cụ thể sâu sắc mãnh liệt và thông minh   trân trọng  và cảm đông đến như vậy...

         Một truyện khác CON NGỰA BẬP BÊNH lại nói đến cái tình người nhân hậu bao la. Bác Louis thắc mắc với cả Thượng Đế đấng cầm cân nẩy mực  cuộc đời trần thế mà lại để cho đời đầy dẫy không biết  cơ man nào là số phận bị dập vùi trong bất hạnh. Bác làngười  bị bệnh Parkinson đi cầu xin phép lạ của Đức Bà La Loriette. Bé Jean-Pierre thì  mang tật nguyền từ buổi sơ sinh mồ côi cha mẹ ở với ông bà ngoại có năm con cũng đều chết cả. Bán hết tất cả hy sinh tất cả ông bà vẫn không sao nuôi chữa cháu được đanh tìm đến La Loriette mong được một  phép lạ cứu đứa cháu tật nguyền. Theo niềm tin của nhân dân vùng này thì  các trẻ em tới đó mỗi em rước một ngọn nến và phải giữ sao cho ngọn nến không tắt. Nếu em bé tự ý muốn của mình trao ngọn nến cho một người lớn thì người lớn kia được khỏi bệnh Ngược lại nếu một người lớn tự mình  lấy ngọn nến từ tay một đứa bé thì đứa bé được khỏi bệnh..Bác Louis thấy Jean-Pierre và cùng một lúc Jean-Pierre cũng thấy bác. Tất nhiên hai người đã tìm nhau bác Louis thì với ý  định xin Jean-Pierre cho bác ngọn nến của em  để Đức Bà xứ La Loriette ban phước chữa cho em khỏi bệnh. Jean-Pierre thì muốn tự mình trao ngọn nến mình cho bác Louis  để bác được khỏi bệnh Parkinson nhờ phép lạ Đức Bà. Trong lúc vội vàng ngọn nến không may bị tắt. Cả hai bên biết chuyện không lành càng quyến luyến nhau. lễ xong ra về không dứt. Bác Louis hứa sẽ tới thăm Jean-Pierre. Bác đã khỏi bệnh. Vài tuần sau bác đi mua một con ngựa bập bênh rất đẹp để tặng em nhưng  tìm đến nhà thì em vừa chết cách ba hôm. Thương qua bác ôm ngựa lên tận đỉnh đồi đặt ngựa xuống trước mộ và khấn: 
“Bác tới đây Jean-Pierre ơi!.Bác không quên cháu đau cháu biết đấy. Bác mang tặng cháu mợt con ngựa bập bênh rất đẹp đây…!

         Tình thương của con người có những lúc cao cả trong suốt sáng ngời và cảm động là như vậy. Và  bác  Louis kể lại : “ Tôi thấy con ngựa bập bênh nhẹ nhàng trên mộ như thể Jean-Pierre vừa cỡi lên nó.”. Bác    kết luận với giọng nói và tấm lòng mênh mông nhân hậu : “ Nếu tôi là Đức Chúa Trời thì tôi vẫn phải quản lý Cuốn Sách Lớn của tôi– cuốn sách Số Phận-  nhưng một cách khác kia!”.  
         
  
       
         Truyện “Cái dải mũ Pompadour” kể chuyện một em bé rất sung sướng được mẹ mua cho một chiếc mũ mới có cái dải Pompadour đẹp tuyệt vời. Em ngắm nghía nó em tự hào vì nó như là niềm hạnh phúc lớn lao nhất đời em. Không may em bị bệnh sởi ảnh hưởng đến con mắt gần như bị mù. Chạy chữa khắp nơi bệnh có giảm nhưng em vẫn chưa dám mở mắt nhìn còn đau lắm. Ba em cho em đi chơi nhiều nơi trong vùng kể cho em  vừa chuyện thật vừa chuyện thần tiên : em  nhìn thấy tất cả nhưng bằng tưởng tượng qua đôi mắt của ba. Trở về nhà nhớ lại cái dải mũ em bỗng hát cho ba em nghe bài hát mà em đã ứng khẩu hát lên khi em được mẹ tặng chiếc mũ mới với cái dải Pompadour. Ba em vụt nghĩ ra :”Sao mình ngốc thế nhỉ ?” rồi biến mất về phía buồng em lát sau ông trở lại sẽ đặt lên đùi em một cái túi bằng giấy. Em sờ vào túi kêu lên sung sướng “ Cái  mũ của tôi ! Cái mũ của tôi!” Ngón tay em đã thoăn thoắt mở  túi  ;  em khẽ hé rồi ráng mở to đôi mắt để  nhìn cái mũ mới có cái dải Pompadour yêu quý của em mặc dầu ánh sáng đốt cháy mắt em khác nào một thanh sắt nung đỏ…Nhờ vậy mà em lành bệnh.  Phải chăng câu truyện muốn khuyên người ta  hãy tự cứu lấy mình trước hết bằng chính nghị lực của mình và bằng niềm tin yêu mãnh liệt cuộc sống?
 

        Các truyện khác cũng vậy. Về mặt này hay mặt nọ Maurice Carême  ca ngợi những đức tính và tình cảm tốt đẹp của con người bắt đầu từ những tình cảm thiêng liêng của gia đình yêu cha mẹ yêu em út (Sương mù Ông Thứ Năm…) kế đến là yêu bạn bè hàng xóm yêu những con vật mình nuôi tiến tới yêu tất mọi người nhất là những người bất hạnh rồi sau cùng mênh mông và sâu sắc nhất là yêu quê hương Tổ Quốc. Cả đến con quỷ hiện hình trong nhân vật mụ phù thuỷ Bella cô bé kể truyện cũng chỉ ghét ở nó cái thói dộc ác thù hằn dai lợi dụng làm khổ người khác nhưng chưa  căm thù đến mức độ  tìm cách tiêu diệt.. Bởi vì  em cũng có nhiều lần hái trộm táo của mụ ta; mụ ta mách ba mẹ em sửa phạt em cũng có cái lý đúng của mụ. Trong tâm hồn em luôn luôn tồn tại cái yếu tô hàng đầu làm nên bản lĩnh con người đó là  cái tiềm  thức bản năng về sự phân biệt phải trái.
 Những tập truyện kể khác của Maurice Carême như Hòn Bi thuỷ tinh Vương quốc các loài hoa Truyện kể cho Caprine…có nhửng yếu tố hoang đường-   bên ngoài hoang đường  nhưng bên  trong hiện thực.

         Tập Cái Dải mũ Pompadour trừ truyện Những chiếc bánh kẹp- đều được xây dựng từ những tư liệu hiện thực có khi được lãng mạn hóa cho  dễ thấm vào lòng người và phát huy tác dụng giáo dục sâu sắc của nó . Đọc Maurice Carême trẻ thơ cũng như người lớn ai cũng thấy yêu cái đẹp cái tốt và ghét cái xấu ai cũng mong muốn và nghĩ : giá như cái thế giới này một ngày kia được như cái thế giới  dễ thương mà chính  Maurice Carême mong muốn : nếu không phải là hết hẳn những số phận bất hạnh hầu như  đã được định sẵn trong Quyển Sách Lớn  cuả Thượng Đế thì ít ra cũng có nhiều người rất nhiều người như bác Louis biết quên nỗi đau riêng của mình để nghĩ đến -và cứu chữa nỗi đau người khác.
 Tập truyện Cái Dải Mũ Pompadour cũng như những tập truyện khác của Maurice Carême là cuốn sách của Lòng Nhân Hậu của Niềm Tin .

      Trong cuộc sống ngày nay mà niềm tin đang  bị xói mòn một cách đáng báo động những cuốn sách như vậy đáng quý đáng trân trọng và đáng đọc biết bao trước hết cho những bậc làm cha me thấy con mình đang có nguy cơ trượt  trên một con đường dốc dần dần do ảnh hưởng tai hại cũa những sản phẩm  văn hóa thiếu văn hóa từ mọi nẻo đổ về. 
                           

                               Thành phố Hồ Chí Minh mùa  xuân đầu thế kỷ

                                                    HOÀNG HƯU ĐẢN
 

More...

MỘT CUỐN SÁCH MÀ MỌI NGƯỜI NÊN ĐỌC

By


             


              Cuốn  PARIS - SAIGON - HANOI  của  Philippe DEVILLERS viết và Hoàng Hữu Đản dịch vừa được Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản. Đây không đơn thuần là những tư liệu lịch sử  mà thực sự nó là một bộ phim sinh động một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn   diễn tả lại một cách hoàn toàn trung thực một giai đoạn  lịch sử quan trọng với những nguyên nhân xa gần đã gây ra nó   những nhân vật lịch sử có thật  đúng với nhân cách vai trò công lao và trách nhiệm của từng người trong  cuộc chiến tranh Pháp-Việt giữa thế kỷ vừa qua.
 Đọc PARIS – SAIGON - HANOI một bên  chúng ta thấy rõ và căm ghét bộ mặt  bỉ ổi của Chủ nghĩa thực dân mới với những viên cao uỷ dô đốc tư lệnh đầy tham vọng lỗi thời che giấu sự thật xuyên tạc thông tin đánh lừa cả Chính phủ họ vốn lúc đầu đã có lúc mong muốn hoà bình và hợp tác để gây ra và kéo dài cuộc chiến tranh vô cùng tai hại cho cả hai bên mà đáng lẽ ra đã được kết thúc êm ấm với Hội nghị Fontainebleau  và Tạm ước 14 tháng 9/1946 rồi.  Một bên chúng ta lại tự hào về Truyền thống của Dân tộc Việt Nam yêu nước   đấu tranh bất khuất kiên cường cho Độc lập Tự do của Tổ Quốc và cho  Hoà Bình Dân chủ và Hữu nghị giữa các dân tộc mà tiêu biểu trong cuốn sách này là BÁC HỒ với trí tuệ thông minh xuyên suốt lịch  sử   ý chí chiến đấu sắt thép trước kẻ thù và tấm lòng nhân hậu vô biên đối với nhân dân Ngoài ra chúng ta cảm phục cái quan điểm rạch ròi và sáng ngời tình - lý của nhà nghiên cứu lịch sử đầy tài năng  Philippe DEVILLERS  đã lý giải một cách hoàn toàn khách quan và trung thực một cuộc chiến tranh vô cùng tai hại cho cả hai dân tộc Việt Nam và Pháp mà trách nhiệm gây ra và kéo dài căn bản và chủ yếu là thuộc về Chính phủ Pháp .  theo như lời bạt của dịch giả cũng nên cảm ơn cả sự ngẫu nhiên đã khiến  một Việt kiều yêu nước nữ tiến sĩ sử học THU  TRANG có dịp giới thiệu một dịch giả Việt Nam đáng tin cậy với   tác giả cuốn sách bạn mình   đang tìm người đáng tin cậy để phó thác  việc dịch và xuất bản cái công trình 40 năm ôm ấp của mình   làm món quà hữu nghị cho những người bạn Việt Nam… PARIS – SAIGON – HANOI  cuốn sách đúng tốt   và hay mà người Việt Nam ta nên đọc cần đọc./.  

TP Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 10 năm 2003


                                                          
Đan Thanh

More...

KHÁI QUÁT VỀ HÀI KỊCH HY LẠP

By

 
        
          VÀI NÉT VỀ HÀI KỊCH CỔ HY LẠP
          Cũng như Bi kịch Hài kịch Hy Lạp bắt nguồn từ  những cuộc rước Tửu thần (Dionysos) nông thôn gọi là  Comos. Buổi lễ tế Thần gồm ba phần: nghi thức dâng cúng vật lễ hy sinh bữa tiệc công cộng và     lễ rước . Đám rước đi quanh làng vừa hát múa ca ngợi Thần vừa trêu ghẹo chế diễu khách qua đường và những nhân vật đương thời thật là náo động và nhộn nhịp .Hài kịch chính là sự phát triển có tính chất văn học và bác học của  lễ rước thần ấy. Những người dự lễ rước nầy không đóng một vai như vai  satyre  (thần dê) trong các đội đồng ca  dithyrambe của bi kịch  . Họ vẫn là họ không hư cấu không giả tạo chút nào . Tính hiện thực và tính quần chúng bộc lộ đến mức tối đa . Họ rước Tửu Thần nhưng họ lại chế diễu thần một cách thoải mái nhất là tính say sưa hưởng lạc tiệc tùng . Trong hài kịch của  Epicharmos  ( chết trước khi Aristophane sinh) đã xuất hiện điển hình  hạng người ăn bám lần đầu tiên trên sân khấu .            

Hài kịch hình thành ở Sicile nhưng đạt tới đỉnh cao lại là ở Athènes . Hai xu hướng chính chi phối nó : xu hướng thần thoại và xu hướng chính trị . Xu hướng thứ hai nầy chẳng bao lâu đã chiếm ưu thế (thế kỷ ~X ) tạo nên nền hài kịch cổ nhưng rồi cũng chuyển nhanh sang xu hướng châm biếm những thói hư muôn thuở của con người mở đường sang nền hài kịch mới. Năm ~ 460 trước CN hài kịch mới được chính thức tham gia hội diễn .
Công chúng là tất cả mọi người từ tầng lớp bình dân cho đến các uỷ viên Hội đồng Năm Trăm các quan toà những công dân có công lao với Tổ Quốc  được vinh dự ngồi ở ghế hàng đầu (proédria); người nước ngoài cũng đước vào xem. Vào cửa phải trả tiền mỗi người 2 oboles.; đối vời người nghèo vé vào cửa được Nhà Nước thanh toán tính vào một khoản trợ cấp đăc biệt: có nghĩa la luật pháp Hy Lạp bảo đảm cho mọi công dân bất kể giàu hay nghèo đều có điều kiện  để được bình đẳng về  quyền hưởng thụ văn hóa như nhau. Các buổi diền đêu long trọng. bat đầu là nghi thưc tế thần Dionysos và kết thúc là trao vương miện cho người chiến thắng. Nhưng cũng rất là ồn ào và thoải mái.Âm nhạc khá giản dị nhưng ban nhạc chơi như  điên khán giả thì gặm quả ôliu ném hạt vào người xung quanh mà đùa giỡn thân mật; họ la  hét reo hò sung sướng ngay dưới con mắt đồng tình của các nhân viên cảnh sát tay cầm gậy sẵn sàng thân mật lập lại trật tự khi cần.Với một công chúng như vậy với những điều kiện như vậy   Aristophane phải có những tài năng như thế nào mới chinh phục được ho gây đuợc tiếng cười đồng tình và qua tiếng cười ấy làm cho họ  thấy rõ chấp nhận và đồng tình với những đìều tế nhị sâu sắc chứa đựng trong từng câu từng chữ của hài kịch  đang diễn. Về nội dung hài kịch Hy Lạp chấp nhận sự gây cười không giới hạn kể cả những động tác những lời nói sỗ sàng trắng trợn thô bỉ . Nhung sàng lọc qua tâm hồn tế nhị của con người Attique mà đặc điểm là luôn luôn biết giữ sự cân bằng nó đã sáng tạo ra những tình huống những sự kiện phi lý ngoài sức tưởng tượng nhưng có sức hấp dẫn lạ thường song song với những tràng đã kích hết đường thô bạo . Và một hiện tượng đáng chú ý là chính những tác phẩm đả kích mãnh liệt nhất vào những nhân vật tai mắt đương thời - như “ Những Người Acac”   “ Những Kỵ binh” . . . lại là những tác phẩm đoạt giải nhất quốc gia ! Một vở hài kịch kết cấu cũng na ná như một vở bi kịch nhưng tự do hơn . Mở đầu là phần   prologos (tự ngơn) thứ hai la phần  parados (màn vào); thứ ba lá phần agôn (màn đấu khẩu) quan trọng nhất. Giữa phần ba xen vào một màn gọi là parabasos (màn phụ) và  cuối cùng là phần exodos (màn ra). Hài kịch được trình diễn dưới hình thức hội thi trong hnững ngày lễ Tữu Thần  (dionysie). Người dự thi chỉ cần mang tới một vở ( chứ không phải một bộ bốn vở như  thi bi kịch ) . Việc dàn dựng rất đơn sơ có thiếu điều gì đã có trí tưởng tượng của khán giả bổ sung cho điều ấy . Vả lại là hài kịch thì càng phi lý cáng dễ gây cười . Đạo cụ gồm đủ thứ : máy treo xe lăn (exyclème) những dùi cui cả những hình tục tĩu . Đội đồng ca thì trang phục như đối tượng mà nó biểu hiện : những ông già những kỵ binh trẻ những con chim những ếch nhái những đám mây ( một lớp voan mỏng trùm cả người chỉ thò có cái mũi ra ngoài) . . . và nhất là cái mặt nạ : mọi nhân vật đều mang mặt nạ nhiều khi giống hệt những nhân vật đương thời mà nhà thơ đả kích . Cho nên khán giả hiểu ngay và một khi nội dung đã thấm vào ý thức của một công chúng hàng 3 4 vạn người và làm  bật ra thành những tràng cười tập thể thì đó la một sức mạnh mà quyền lực cũng không ngăn cản nổi sức mạnh đả phá cái sai và cải tạo xã hội cải tạo con gnười . Ta có thể từ đó hiểu được vì sao Platon đã gọi một cach hóm hỉnh và đúng chế độ cộng hòa Athènes là “một chế độ sân khấu trị” . Ta cũng hiểu được vì sao thủ lĩnh Cléon bị Aristophane đả kích quyết liệt qua vai Gã Paphlagonien trong vở  NHỮNG KỴ BINH đã phải đưa đơn ra tòa kiện Aristophane (lúc này mới 21 tuổi) chứ không có quyền đàn áp - để rồi chính ông ta chuốc lấy cái thua ! Toà án cũng như quần chúng Athènes không đứng về phiá kẻ cầm quyền mà đứng về phía Aristophane người nghệ sĩ ưu tú của họ.   
              


         NHÀ THƠ HÀI KỊCH XUẤT SẮC NHẤT  THỜI  CỔ: CON NGƯỜI
       VÀ 
 QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC
 

               ARISTOPHANE  sinh năm - 445 và mất năm - 386 trước công nguyên . Ngày nay chúng ta hầu như không còn một tư liệu nào trực tiếp nói đến thân thế nhà thơ hài kịch lớn nhất Hy Lạp ngày xưa ấy ngoài một số chi tiết rải rác trong các tác phẩm còn lại của ông . Người ta chỉ biết ông sinh tại khu Kydathénée thành phố Athènes cha là  Philipos thuộc dòng họ Pandios và mẹ là Dénodora; có lẽ Aristophane đã sống thời niên thiếu tại vùng nông thôn  Êgine ? Chính những năm tháng đó đã làm nảy nở trong tâm hồn ông cái thiên hướng ham thích cuộc sống thôn dã với những cảnh sắc những điệu múa lời ca những phong tục hội hè hàng năm của nó . thiên hướng ấy bộc lộ khá rõ ràng trong mỗi tác phẩm của ông . Chắc cũng có thời kỳ Aritophane tiếp xúc rộng rãi với các tầng lớp thanh niên quý tộc Athènes - mà ta dễ tìm thấy bóng dáng trong vở Những Kỵ Binh . Năm 427 18 tuổi ông cho diễn vở kịch đầu tay của mình Những tân khách; năm 426 vở Những Người Babylone hai vở này ngày nay không còn.
Nếu thân thế Aristophane không giúp ta hiểu rõ hơn về tác phẩm của ông thì bản thân những tác phẩm ấy lại có nhiều chi tiết soi rọi cho chúng ta biết được đôi điều chính xác về thân thế và con người của tác . gia. Một câu thơ của vở Hoà bình ( -421) câu 771 - 772 cho biết Aristophane hói đầu rất sớm (24 tuổi) .  . Vở Những Kỵ Binh nói rất rõ kẻ thù chính của ông là Cléon đồng thời bộc lộ rõ quan điểm chính trị của nhà thơ . Ở Những Đám Mây đả kích vào Socrate và bọn ngụy biện . Nguyên cái việc đưa chúng ra sân khấu và giết chúng bằng tiếng cười cho phép  khẳng định rằng Aristophane cao tay hơn chúng một bậc thông tỏ phương pháp và luôn luôn thoát khỏi ảnh hưởng của bọn đó . không tùy thuộc một phe cánh nào và rất kinh tởm bọn mị dân rất căm ghét bạo lực và cường quyền.Aristophane đồng thời là con người tha thiết với hòa bình tranh đấu không mệt mỏi cho hòa bình   (Những Người Acac Hoà Bình Lysistrata) và rất tôn trọng truyền thống . Đằng sau những mũi tên châm biếm tua tủa trong mỗi một trang kịch của ông người ta có thể  thấy nhà thơ rất gắn bó  với trật tự xã hội cũ và nhiệt tình bảo vệ cho trật tự ấy. Chính vì vậy mà ông đả kích không thương tiếc bất cứ ai chà đạp lên lý tưởng xã hội  của ông và những hài kịch của ông càng được hầu như toàn thể công chúng nhiệt liệt ủng hộ Chính công chúng bảo vệ ông chống tên độc tài Cléon như đã nói ở phần trên. Hài kịch của ông đã có một  tác dụng tức thời chống lại cả cường quyền và bạo lực. Tuy nhiên trong con người luôn luôn hừng hực đấu tranh đó còn có một con người khác rất người. Tác phẩm Bữa tiệc của Platon cho ta hiểu thêm một đôi nét về tư cách và tính tình Aristophane . Ở đây nhà thơ hiện lên như một con  người vui tính nói chuyện rất có duyên và chỉ ham thích những thú vui của Tữu Thần và Vệ Nữ .  

Theo tài liệu của người xưa thì Aristophane đã sáng tác 44 vở hài kịch phần lớn đã bị mất mát chỉ còn  11 vở nguyên vẹn  . Đây là một con số đáng kể so với tổng số rất ít ỏi những tác phẩm sân khấu mà người ta còn giữ được : khoảng trên dưới 50 .
Năm ~425 vở Những Người Acac là một bài ca biện hộ cho hòa bình. Năm sau (~424 ) tác giả cho diễn vở hài kịch chính trị thứ hai -Những Kỵ Binh - được dư luận đương thời coi là kiệt tác . Những Đám Mây với hình ảnh hoạt kê của Socrate được diễn năm ~423 .Tiếp theo cùng năm ấy là vở Bầy Ong vàng châm biếm cái tổ chức xử án của Athènes . Vở Hòa Bình (~421)  là một bức tranh hồ hởi về mối tình hữu nghị giữa các dân tộc và những lợi ích lớn lao do tình hữu nghị ấy đưa lại cho mọi người .Tiếp theo vở Bầy  Chim (~414)  đầy tính chất tưởng tượng. Ba năm sau (~411) ông cho diễn một hài kịch chống chiến tranh – Lysistrata- với những mũi châm biếm tục tĩu có phần thô bạo . Tiếp theo hai hài kịch có tính văn học Ngày Hội Dêmêter (Thesmohories ~ 411) và Đám Ech Nhái (-405) . Rồi hai vở Hội Nghị Những Bà Vợ (~395) và Plutos (~388)  một vở nói tới các bà vợ  toan chuyện giành lấy chính quyền từ trong tay nam giới một vở bàn dài dòng về vấn đề phân phối của cải xã hội . Tất cả những vở đó đều được biểu diễn trong những ngày hội Lénéenne hoặc Dionysies (đều là những ngày hội Tữu Thần) luôn luôn được giải nhất hoặc giải nhì trừ vở Những Đám Mây không được giải . Hài kịch Aristophane mà người ta thường gọi là hài kịch cổ nảy sinh từ trên những sườn đồi Attique và vẫn giữ lại những nét đặc biệt nào đó phản ánh cội nguồn tôn giáo và nông thôn của nó . Về quan niệm nó khác với bi kịch mặc dầu nhiều khi chính bi kịch cung cấp cho nó đề tài . Với một nhịp điệu nhanh gọn hơn hài kịch không cần chú trọng nhiều đến kết cấu mà phơi bày ra trước mắt khán giả một loạt những bức tranh xã hội nối tiếp nhau với những nhân vật  đương thời dưới những chiếc mặt nạ nhiều khi giống hệt   đến nỗi  nhân vật  Gã Bán Dồi trong vở Những kỵ binh đâm sợ trước tên Paphlagonien  mang mặt nạ Cléon  (câu 284 - 285) . Châm biếm tự do đôi khi đến tục tĩu nó vừa dựng lên những bức tranh hoạt kê sắc nét vừa chắp cánh cho trí tưởng tượng tha hồ bay bổng vui tươi . Tuy vậy nhà thơ vẫn giữ vững những nguyên tắc sáng tác cũng như văn pháp không kém chặt chẽ so với bi kịch . Như đã nói ở phần trên mở đầu một vở hài kịch cũng là phần tự ngôn   rất vui nhộn nhằm kích thích tính tò mò của khán giả . Bằng một đoạn độc thoại một hoặc hai nhân vật ra sân khấu nêu nội dung sơ lược của tác phẩm mà chủ đề căn bản nhằm tác dụng gây cười . Tiếp đó là sự xuất hiện huyền bí trang trọng hoặc ồn ào náo nhiệt của Đội Đồng ca gọi là Màn ra  Đội đồng ca gồm hai mươi bốn người ; trong nhiều vở nó được hóa trang thành những đám mây những con ong vò vẽ một đám ếch nhái một bầy chim . Họ nhảy múa họ hát ca một hồi cho tới khi cuộc đấu khẩu   bắt đầu - một hình thức khôi hài có từ trước . Đây là yếu tố chính tạo nên hành động kịch  : nhân vật chính của vở hài kịch cùng với đội đồng ca khích bác dọa dẫm nhau ấu đả nhau khi bên này thắng khi bên kia thắng . Cuộc ấu đả chấm dứt vai chính đứng lên ca ngợi chiến thắng và đi ra chuyển sang phần đặc sắc đáng chú ý nhất của vở kịch là phần tự tự  . Đội Đồng ca còn lại một mình trên sân khấu nói chuyện trực tiếp với khán giả . Qua lời lẽ của người nhạc trưởng nhà thơ ca ngợi tài năng giá trị của mình đưa ra trước công chúng những thỉnh nguyện yêu cầu và phát biểu những băn khoăn ái ngại . Xong phần tự tự vở kịch tiếp diễn thông thường là bằng những khúc hát châm biếm hoặc bằng một loạt những lớp kịch nhỏ rồi kết thúc bằng một Màn ra   của Đội Đồng ca và các nhân vật . Màn ra thường là một cảnh nhại theo nghi thức những cuộc rước lễ linh đình trong một không khí hội hè vui nhộn .  

             

                CHẤT GÂY CƯỜI

            Những vở kịch của Aristophane được kết cấu hơi đặc biệt như vậy nên người xem thường bị mất phương hướng trong chừng mực nào mà cái cười không đến một cách tự nhiên . Rồi tới một giới hạn nào đó thì khán giả có thể không còn cảm thấy đâu là cái hài hước của nhà thơ nữa . Những câu nói đùa dai những so sánh tục tĩu chỗ nào cũng xuất hiện được (ví dụ trong vở Những Người Acac câu 1040 - 1050) đã tạo nên những ẩn ý . . . Nhiều khi để thưởng thức được hết cái tế nhị của một câu đối đáp chúng ta buộc phải dựa vào những bình luận triết lý văn chương hoặc những lời chú giải ; để hiểu hết cái ý vị chua cay của một câu bông đùa những lời ám chỉ sắc nhọn chúng ta phải vận dụng phương pháp phê bình mà phê bình nói chung là phủ định là giết chết tiếng cười .Ngoài ra hài kịch Aristophane liên quan một cách hết sức mật thiết với những vấn đề thời sự mà ngày nay không nắm được nên chúng ta khó lòng tìm thấy chất gây cười trong một số lớn chi tiết đó . Có người nói : Aristophane đã khắc họa được một số nhân vật hài kịch vĩnh cửu . Nói vậy có lẽ không đúng hẳn. Bởi trong hài kịch Aristophane phương pháp hoạt kê đã loại trừ  sự đi sâu phân tích tính cách .Nhân vật của Aristophane trước mắt chúng ta chỉ là những kiểu con rối với những đường nét phóng đại và sơ lược hóa một cách hơi quá đáng được tô đậm bởi những tình huống phi thực tế . Ai có thể tin là có thực một nhân vật như Dicéôpôlis trong vở Những Người Acac hoặc như Démos - ông Nhân Dân - trong Những Kỵ Binh ? Ở Aristophane  sự phóng đại bóp méo đã gây cười thực tế đã tước đi cái khả năng tồn tại thực tế của các nhân vật ; mà đây lại chính là một yêu cầu tất yếu của thể loại ; chỉ cần để lại cho gã Paphlagonien - Cléon một chút xíu tính người là có thể làm cho nhân vật ấy được cảm tình hoặc thương hại của khán giả một sự yếu đuối nhất thời có thể đem đến cho chúng ta mối thông cảm với con người đó bởi chúng ta ngày nay không chấp nhận những nhân vật cứng đờ không có dấu hiệu tính người . Xét bề ngoài thì những lớp đả kích Socrate trong Những Đám Mây những đoạn bình luận văn học hay nhại thơ  Euripide trong Đám Ech Nhái - quả có gây hứng thú cho lớp độc giả và khán giả trí thức chúng ta thật đấy . Nhưng nó không làm được cho chúng ta cười và chỉ một nụ cười mỉm của tầng lớp trí thức đâu phải mục đích chính của những vở hài kịch có giá trị ?   Do đó mà chúng ta rơi vào cái nghịch lý này : nhà thơ hài kịch vĩ đại nhất cổ Hy Lạp đã từng làm cho khán giả đương thời của ông cười lăn cười lóc lại không gây nên được những tràng cười thoải mái như vậy cho khán giả trí thức ngày nay . Là vì với khoảng cách lịch sử 23 thế kỷ cái cười của chúng ta ngày nay thông minh hơn khó tính hơn khoảng cách ấy đã giúp ta phân biệt được Socrate và bọn Sophiste đánh giá đúng hơn khía cạnh tài năng của Eschyle va Eurypide - là những nhà thơ sân khấu đương thời với Aristophane .Vậy nhưng cái sức gây cười của nhà thơ  vẫn thường xuyên tồn tại là do cái vui tươi nhảy nhót luôn luôn sống động trong mỗi màn mỗi lớp kịch của ông . Ong luôn luôn đi tìm cái phi lý và luôn luôn đứng ở giới hạn của cái phi lý : từ nội dung chủ đề cho đến kết cấu các vở tất cả đều như  một sự thách thức trí tưởng tượng : Nhà thơ xuất phát từ một tình huống bất thường hay huyền hoặc mà ông trình bày như một điều có thực rồi tung đi lật lại triệt để khai thác nó trong mọi khía cạnh bất ngờ  : chất hài hước cứ thế nảy sinh ra từ cái trái ngược giữa một bên là sự phi lý của chủ đề và một bên là cái lôgic hết sức chặt chẽ mà tác giả dùng để lý giải chủ đề phi lý đó . Athènes và Sparte đang chiến tranh với nhau . Một anh nông dân quyết định ký một  “ hiệp định đình chiến riêng lẻ” và trong tất cả các mẫu đình chiến đưa ra anh ta chọn mẫu đình chiến 30 năm : đó là nội dung vở Những Người Acac . Trong Những Kỵ Binh thì một gã Bán dồi được số phận đưa lên cầm đầu Nhà nước . Anh chàng trồng nho Trygée cỡi một con bọ hung lên trời ( như Bellérophon cỡi con ngựa thần Pégase đi tiêu diệt con quái vật Chimère (1)  để cứu thoát nàng Hòa Bình lâu nay bị chiến tranh giam giữ : đó là nội dung của vở Hòa Bình . Hai thanh niên Athènes theo sự dẫn đường của một con quạ khoang và một con quạ bé đi đến sinh sống với lũ chim trời và dựng lên một thành bang lý tưởng : Đó là vở Bầy Chim . Diônysos mang theo anh đầy tớ Santhias xuống địa ngục để đưa trở về lại trần gian  một nhà thơ khả dĩ góp sức cải tạo được cái xã hội Athènes đang trên đường suy thoái.   Chọn ai đây Eschyle hay Euripide ? Diônysos chọn Eschyle : Đó là vở Đám Ech Nhái . Những người đàn bà họp nhau để trục xuất các ông chồng đi nắm lấy chính quyền và dự kiến những cải cách táo bạo - tài sản  xã hội sẽ là của chung không có kẻ giàu người nghèo ai nấy sẽ đủ mọi điều nhu yếu cho nên không còn trộm  cắp và tòa án sẽ trở thành vô ích . . . cuộc sống sẽ diễn ra ngày ngày trong yến tiệc và điệu múa lời ca –báo trước một lý tưởng xã hội chủ nghĩa hư ảo se xuất hiện  2000 năm sau; đó là vở Hội Nghị Những Bà vợ .Trên cơ sở những chủ đề hoang đường tưởng tượng như thế . Aristophane thêu dệt thêm chi tiết nhằm tạo ra cái hài hước : một cảnh đón tiếp sứ đoàn nước ngoài trong Những Người Acac gương mặt bủng beo gầy còm của các đệ tử Socrate trong Những  Đám Mây ông già Philocleon  chui qua ống khói nhà mình trốn ra công trường để xử án trong Bầy Ong Vàng sự cải trang thành đàn bà  của người họ hàng Euripide trong Những Ngày Hội Đêmêter chiếc cân cân giá trị mỗi câu thơ Eschyle và Euripide trong Đám Ech Nhái . . . Đấy những chất liệu để dựng lên những màn kịch  gây cười trong chừng mực mà nó tạo ra được những tình huống kỳ quặc phi  thực tế với một sự phóng đại không tránh khỏi của thể loại hài kịch . Chưa phải hết: Aristophane còn sử dụng những cơng cụ gây cười không cưỡng nổi tiếng cười bản năng: những cặp mông những cặp vú độn to quá cỡ hay giưã cái cười vỡ bụng của công chúng đang lên cao trào nhân vật hài bỗng tự dưng rủ tữ trong nếp áo ra  một “cây chày” to tướng mang hình dương vật…mà khán giả ngày nay tuy có cười nhưng không thể chấp nhận nó trên sân khấu. Nhưng mà ngày xư là chuyện bình thường khi mà nhiều dân tộc bán khai  có cái tôn giáo  thờ dương vật như biểu hiệu của   ước ọng phát triển giống nòi…) .
Cái kiểu gây cười này của Aristophane là một “động tác nhất cử lưỡng tiện : nó vừa tự nó gây cười vưa có tác dụng làm cho công chúng hiểu  được hết cái ý nghĩa châm biếm đả kích mãnh liệt hoặc những tiếng chửi tế nhị kín đáo mà sâu cay ẩn giấu đằng sau cái thô tục ấy.
 Trong hài kịch Aristophane vấn đề đạo diễn không phải không giữ một vai trò quan trọng . Nếu như phần trang trí còn tương đối nghèo nàn những phương tiện sân khấu của người xưa còn khá thô sơ thì sự sáng tạo ra những chi tiết trong quá trình biểu diễn ngược lại rất đỗi phong phú . Trong vở Những Đám Mây chẳng hạn ta thấy Socrate đang ở nhà lơ lửng trên không trong một cái rổ to đan bằng cành liễu : đó là “ đài quan sát”  của ông . Ngoài sân người ta thấy ngổn ngang những dụng cụ thiên văn hình học một tấm bản đồ trái đất . Những đám mây từ cao hạ xuống bằng một hệ thống máy móc thô sơ .Trong vở Hòa Bình Trygée bay lên trời cỡi một con bọ hung máy . Trong vở Bầy Chim cũng vậy chẳng thiếu cái gì ; cũng có những đạo cụ cũng có sự xuất hiện bầy chim hóa trang màu sặc sở . Còn cách phục trang của những vị quan tòa trong Bầy Ong Vàng với một con dao găm dài đeo chỗ dưới thắt lưng thì nó gây cười tự nhiên cũng như khi Dionysos gập mình xuống  đẩy mạnh mái chèo lúc qua bãi lầy địa ngục .Sự phong phú trong sự sáng tạo hài hước của Aristophane không tách rời với những biện pháp diễn đạt : những từ hai nghĩa những từ gần giống nhau những từ tượng thanh những liên tưởng bất ngờ những lối chơi chữ những điệp ngữ điệp từ những tiếng mới đặt ra theo nhiều kiểu khác nhau . . . trang nào cũng có . Nhà thơ thật là vô song trong việc để cho nhân vật mình nói theo giọng nói địa phương như anh chàng Mêgarien  hoặc bịa ra một thứ “ngoại ngữ” kỳ quặc như nhân vật Ngài Huênh Hoang “ Con mắt vua Ba tư” trong vở  Những Người Acac . Molière sau này khi sáng tạo ra nhân vật Hoàng tử Thổ Nhĩ Kỳ ( Cléonte) tới cầu hôn con gái lão Jourdan và hứa phong cho lão tước vị Mammamuchi  chắc hẳn đã đọc đi đọc lại nhiều lần lớp kịch tiếp sứ đoàn  nước ngoài này của  Aristophane . hai lớp kịch giống nhau như hai giọt nước . Aristophane cũng vô địch về cái tài mô phỏng hoặc nhại thơ người khác chủ yếu thơ  của Euripide (Đám Ech Nhái).                                                      
                      

             
                  CHẤT CHÂM BIẾM
 

               “Đả kích bọn dâm đãng đê hèn không có gì đáng trách :
Đây chính là trân trọng biểu dươngĐối với những ai trong sạch  tâm hồn . “ Aristophane đã nói vậy trong vở Những Kỵ Binh (câu 1743 - 1745) . Và ông đã thực hiện đúng cái điều ông nói . Ong đã sử dụng  cả một kho từ ngữ hết sức phong phú để đáp vào mặt kẻ thù . Ong quất những ngọn roi chí tử vào  các nhà chính trị đang cầm quyền . Đối tượng đả kích của nhà thơ trước hết là Cléon một gã tóc hoe có giọng nói sặc mùi phóng đãng gốc gác đê hèn và có hành vi đểu cáng . (Những Kỵ Binh Bầy Ong Vàng Hòa Bình ) . Vợ Pêriclès (Những Người Acac) . Hyperbolos (Hòa Bình) Cléophon . . . cũng đều là những tên lừa đảo bịp bợm . Trong thời kỳ rối loạn đó của lịch sử Athènes nhà thơ chĩa mũi nhọn  đả kích vào những thủ lĩnh nói trên bởi họ tán dương ca ngợi chiến tranh và dùng chiến tranh để theo đuổi những lợi ích cá nhân của họ (tướng quân Lamakhos trong Những người Acac) . Tiếng chửi của Aristophane rất có trọng lượng vì nó gây cười . Đó là biệt tài của nhà thơ . Với bọn mật giác   “ ma ác mộng quỷ thương hàn” nhan nhãn trong xã hội Hy Lạp đương thời ngọn bút của ông cũng không êm dịu hơn chút nào (Bầy Ong Vàng câu 1038 - 1039) .Về chính trị Aristophane đối lập với phe dân chủ . Ong phê phán  bọn này về tội biển thủ ngân quỹ quốc gia bắt các thành đồng minh cống nạp  quá nặng duy trì một cuộc chiến tranh vừa tốn kém vừa vô ích . Ong già Démos (ông  Nhân Dân) trong Những Kỵ Binh là một ông già bẳn tính ích kỷ ưa nịnh và ngu ngốc :

“Đẹp đẽ sao quyền lực
Ccủa Người hỡi Nhân Dân !
Ai nấy đều sợ phép
Bạo chúa cũng ngang hàng.
Nhưng Người dễ bị lừa :
Cái điều Người ưa thích
Là mơn trớn vỗ về
Và ngọt ngào nịnh hót
Bất kỳ ai đang nói
Người cũng nghe há mồm
Cái đầu
Người lang bang
Óc não chơi cung Quảng !”
 

Vậy thì sẽ là một gã Bán dồi con người nhẵn mặt nơi cửa chợ lên nắm quyền cai trị .
Đằng sau những con gnười là các tổ chức . Aristophane chế diễu Hội đồng nguyên lão Hội nghị nhân dân các tòa án với chế độ công dân- thẩm phán Philucléon trong Bầy Ong Vàng là một ông già điên luôn luôn bị ám ảnh vì cái máu xử kiện . Thông qua nhân vật đó tác giả phơi bày những nhược điểm cơ bản trong tổ chức tư pháp của Athènes Racine sau này trong vở Những kẻ máu mê xử kiện (Les Plaideurs) có sử dụng tình tiết con chó trong vở    Đám Ong Vàng của Aristophane  nhưng không tạo được một sức lôi cuốn mạnh mẽ cho vở kịch của mình vì Racine đả kích vào một tật xấu chứ không phải vào một tổ chức xã hội . Trong Bầy Chim  cũng có cái giọng châm chọc sâu cay ấy : 

Những con ve sầu hát mỗi năm vài tháng
Mình nghiêng nghiêng trên những cành nho
Còn người Athènes hát chẳng nghĩ bao giờ
Mình nghiêng xuống trên những cành ... xử kiện
Và như thế suốt cả cuộc đời đăng đẳng".
                                                        
                                        (câu 33 - 34)
 

                Bọn đi sứ trước con mắt của Aristophane ra nước ngoài chỉ chuyên yến tiệc no say trở về lại làm dân chúng no say với những  câu chuyện hoang đường bịp bợm .
Ngòi bút Aristophane đả kích không trừ ai nhưng không bao giờ trực tiếp động chạm đến Athènes . Trái lại ông dành cho Thành phố quê hương “đầu đội vành hoa tím”  hồn nhiên độ lượng tự do và hạnh phúc những dòng thơ trữ tình đẹp nhất ông ca ngợi vinh quang và sức mạnh của Athènes trong lời tự sự của Những Kỵ Binh :
 “ . . . Đất nước linh thiêng không ai thắng nổiVề quân đội nhà thơ sức mạnh của mình “ và của vở Bầy Ong Vàng : 
 

"
Vì thuở ấy ta quả tình đáng sợ
Không gì ở trên đời có thể
Khiến nổi ta kinh hãi bao giờ .
Tung hạm thuyền tới những biển khơi xa
Ta đã giáng cho quân tù thất bại .
Bởi điều lo lắng của ta lúc ấy
Không phải là trau dồi một bức diễn văn
Để đọc sao cho lưu loát bổng trầm
Mà là dũng cảm quai chèo trên sóng nước . . .”
 

Đây không phải là một hiện tượng mâu thuẫn mà là hai mặt của một tinh thần yêu nước một ý thức  công dân được xác định rõ ràng . Aristophane mong muốn hòa bình nhưng chính vì yêu nước mà ông mong muốn ông căm ghét chính sách mị dân   nhưng chính vì yêu thương nhân dân mà ông đấu tranh chống những kẻ cầm đầu bất chính mà nhân dân đã tự lựa chọn cho mình . Những lời thở than đau xót sau đây  của Lysistrata  là của một con người yêu nước có suy nghĩ và thiết tha  :

“ Bởi ta đang nắm trong tay vận mạng cac người ta muốn nói những câu khiển trách hợp lẽ công bằng với các người những kẻ rưới rượu lên bàn thờ thánh như những đứa con của một gia đình tại Olympie Thermôpile Pytho khi bọn Rợ kẻ thù của các người đứng kia tay cầm vũ khí ; các người lại giết người Hy Lạp và tiêu diệt thành bang của họ . . .” (câu 1128 - 1134)

Cũng với giọng thiết tha  chân tình ấy trong Đám Ech Nhái Aristophane đòi hỏi quên quá khứ đi và bắt tay thân ái lại . Ong mong muốn nhà thơ phát huy hết tác dụng tốt của mình khôi phục lại trật tự của xã hội thanh thế của thành bang :
 

. . . Nào Eschyle hãy lên đường phấn khởi
Cứu thành bang mình bằng những câu khuên bảo khôn ngoan
Và sửa lại cái đầu cho những gã ngông cuồng
Ở trên đó chúng đông khôn xiết kể !”
                                   
                            (
câu 1784 - 1787)
 

             Ngoài ra ngọn bút châm biếm của Aristophane còn đả kích vào nhiều mặt khác mà ông cho là lố lăng trái ngược có cái đả kích đúng có cái không đúng. Về phương diện tôn giáo nhà thơ phê phán mạnh mẽ những đối thủ của mình là vô đạo . Đó là chủ đề của Những Đám Mây . Socrate nói với Strepsiade (BaTròn) :
 SÔCRATE – Thần linh ! Ý nghĩ lạ chưa ! Một lối thề kỳ quặc!Trước hết nơi đây chẳng có thần linh đâu !

              Ông đập nhập Sôcrate vào với bọn sophistes nguỵ biện này kết án Socrate là  đã phá hoại tín ngưỡng. Bởi  vì về tôn giáo cũng như về chính trị ông là một người bảo thủ . Lý tưởng của ông thể hiện qua tác phẩm là cái trật tự xã hội cũ ở đó thần linh được tôn trọng và tôn giáo có một vị trí hàng đầu . Theo suy nghĩ  của ông thì thần linh của Socrate -những đám mây- là một sự cách tân mà ông lên án từ đó ông coi Socrate là một con người bất kính thù địch của thần linh .

More...

KHÁI QUÁT VỀ BI KỊCH HY LẠP

By

  
             I – ĐẤT NƯỚC NHỮNG NGƯỜI YÊU NGHỆ THUẬT

              Phía Đông - Nam châu Âu nhô ra Địa Trung Hải là một bán đảo gồ ghề bao bọc xung quanh có hàng ngàn đảo nhỏ xanh biếc. Đó là xứ sở một nền thần thoại đẹp đến là kỳ in dấu trên mỗi ngọn núi dòng sông mỗi khu rừng eo biển mỗi thành phố đông vui cho đến mỗi hòn đảo cô đơn giữa mênh mông sóng vỗ đêm ngày.Đất nước ấy là của những con người có một trí tuệ thông minh linh hoạt những tài năng đa dạng và tinh xảo một khiếu thẩm mỹ tuyệt vời đã sáng tạo ra một nền văn minh chói lọi nhất xưa kia cơ sở đầu tiên vững vàng của nền văn minh thế giới. Đó là cái nôi của nền văn học - nghệ thuật cổ đại mà những thành tựu lớn lao vượt qua những tàn phá của thời gian và những kẻ thù man rợ để mà tồn tại đến ngày nay vẫn không khỏi làm cho chúng ta những con người của cuối thế kỷ XX phải lạ lùng bỡ ngỡ. Có thật chính họ những con người sống trước chúng ta trên hai nghìn năm trăm năm ấy đã làm ra những điều kỳ vĩ này chăng? Một ngôi điện Parthénon với những hàng trụ cẩm thạch trắng chạy suốt bốn xung quanh với hai trăm năm mươi hai bức phù điêu tuyệt diệu; một bức tượng tròn bằng ngà và vàng của nữ thần Athéna mười hai mét cao; cây hải đăng Alexandrie thư viện Alexandrie với 700.000 cuốn sách… những thiên anh hùng ca bất hủ Iliade và Odyssée những vở kịch Antigone Médée Oédipe… những bộ óc bách khoa như Aristote tất cả những thành tựu đó đều như những tấm huân chương trên ngực biểu dương cái khả năng sáng tạo vô tận của con người.Nhà triết học nhà khoa học người nghệ sĩ và nhà thơ trong Chàng trai Hy - Lạp ngày xưa chính là cái tuổi hoa niên của nhân loại. Phơi phới tình yêu đời và nghị lực say hiểu biết tin ở mình một buổi sáng mùa xuân hoa lá xanh tươi chan hoà ánh nắng chàng trai ôm chiếc huyền cầm đi tìm lên thế giới bao la kỳ diệu của Chín Nàng thơ. Từ chỗ ở thần tiên các Nàng thơ ngày ngày để mắt xuống cõi trần tìm một bóng dáng thân yêu để truyền lại cho đời những tài hoa bất tuyệt. Giữa lúc chờ mong tha thiết ấy chàng trai Hy - Lạp bỗng nhẹ nhàng tới gõ cửa tiên cung ra mắt các nàng. Rung động trước vẻ đẹp cân đối hài hoà cao thượng của một chàng trai trẻ các nàng thơ âu yếm san sẻ cho chàng trai tất cả những tinh hoa tài nghệ của mình. Thấy như vậy vẫn chưa đủ bộc lộ hết mối tình gắn bó các Nàng dời luôn chỗ ở của mình xuống ngay xứ sở của chàng trai trên các ngọn núi Pinde Hélicon Parnasse thắm đẹp bốn mùa. Rồi các nàng thay phiên nhau rót chất thần đơn thơm ngát ngọt ngào thanh khiết của mình vào trong trái tim óc và mỗi đường gân thớ thịt của chàng trai.Bởi vậy mà cái đặc điểm nổi bật của nền văn học Hy - Lạp ngày xưa là nó chứa đựng một chất thơ đậm đà man mác. Chất thơ thấm đượm mỗi chiến tích anh hùng qua lời ca của người nghệ sĩ hát rong. Chất thơ say đắm ngọt ngào trong tiếng nói yêu đương của một Sapho nữ sĩ. Chất thơ toả ra từ một câu trả lời nặng ý nghĩa trên miệng vua Xercès (Ba tư) mà nhà sử học đã “thính tai” nghe được. Chất thơ đọng lại sâu nhất trong những thiên bi kịch tronglời Électra khóc em Médée khóc con đội đồng ca ca ngợi con người… ngày nay đi qua những di tích nhà hát cũ người ta nhưng vẫn còn nghe vọng lại những lời thơ đã từng làm say đắm mọi người trong các ngày hội lễ thần Dionysos ở mọi thành bang. 


               II - NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU HY-LẠP

               Nghệ thuật sân khấu Hy-Lạp
ra đời khoảng thể kỷ VI trước công nguyên. Nguồn gốc nó là ở những bài hát dithyrambe chúc tụng Tửu thần Dionysos (tức thần Bacchus trong thần thoại La Mã). Đây là thời kỳ mà việc thờ cúng tửu thần được lan truyền từ châu Á sang châu Âu. Trong các ngày hội Dionysies đó các bài dithyrambe được các đội đồng ca hát lên gắn liền với những nghi thức diễn trò Satyre tức là diễn lại những cảnh sinh hoạt của vị thần rượu đi đâu cũng có những nàng Ménades (Bacchantes) và những Satyres đầu người mình dê đi theo nhảy múa. La hét như điên như dại. Vật lễ tế Dionysos thường là một con dê. Chữ tragédie (bi kịch) là một từ mới cấu tạo thành bằng hai chữ tragos (con dê) và ode (tụng ca) ghép lại. Đội đồng ca do một nhạc trưởng (coryphée) điều khiển. Trong quá trình chuyển biến dần dần một người (với Thespis) rồi hai người (với Eschyle) rồi ba người (với Thespis) rồi ba người với (Sophocle) trong đội tách ra đối đáp với nhạc trưởng hoặc với nhau và trở thành diễn viên và cái nghi thức hát mừng Dionysos cũng từ đó mà biến đổi tính chất. Lễ mừng thần vẫn còn nhưng từ nó một hình thức nghệ thuật mới có hát có múa và có đối thoại đã xuất hiện có cuộc sống riêng và phát triển: đó là bi kịch.
Dân tộc Hy lạp là một dân tộc rất tôn trọng thần linh và truyền thống cũ yêu cuộc sống vui vẻ hồn nhiên say mê những sinh hoạt ngoài trời. Mỗi năm vào mùa Xuân và mùa Thu có những ngày hội Tửu Thần gọi là Dionysies trong ngày hội đó có những đám rước những trò chơi và riêng hội Dionysie mùa Xuân có tổ chức thi biểu diễn sân khấu. Mỗi nhà thơ dự thi phải trình diễn một bộ ba bi kịch (trilogie) kèm theo một vở kịch châm biếm gọi là satire. Ban giám khảo được chọn bằng hình thức bắt thăm và bỏ phiếu. Họ làm việc khách quan có dựa vào dư luận khán giả. Tất cả các nhà thơ dự thi và diễn viên đều được thưởng tiền. Nhà thơ nào trúng giải nhất thì được vị đứng đầu thành bang đội lên đầu cho một vành hoa chiến thắng kết bằng lá nguyệt quế trường xuân. Hằng năm tên tuổi các đạo diễn tác giả diễn viên chính người lãnh đạo các độ đồng ca và cả ban giám khảo đều được khắc vào bia để lưu lại đời sau. Nhân dân và nhà nước Athènes rất coi trọng và dành cho họ một địa vị vinh quang xứng đáng. nhà nước bỏ tiền ra xây dựng những nhà hát lộ thiên có nhiều bậc ngồi hình vòng cung có thể chứa được hàng vài ba vạn khán giả. Có nhà hát như nhà hát Épidaure chứa được gần bốn vạn rưỡi người. Mỗi năm hai kỳ nhà nước chi cho dân nghèo tiền vé đàn ông đàn bà con trẻ để mọi người được đi xem đủ cả ba ngày biểu diễn. Trong những ngày đó những việc công cộng hội họp… đều nghỉ. Nhà triết học Platon đã gọi một cách hài hước mà đúng rằng “Nhà nước Athènes là một nhà nước sân khấu trị”.Vì là một nền sân khấu hình thành từ những bài hát dithyrambe và những nghi lễ thờ phụng Tửu Thần cho nên bi kịch Hy lạp có mang theo những đặc điểm rõ rệt phản ánh nguồn gốc của nó.

1 - Nó không chia thành hồi lớp như kịch hiện đại mà diễn một mạch từ đầu đến cuối. Sau mỗi bước tiến triển của hành động kịch tương đương môt hồi thì đội đồng ca lại hát một bài tương đối dài để gói ghém lại (gọi là stasimon) và chuyển tiếp bước sau. Phần lớn các vở kịch đều cấu tạo theo cùng một khuôn khổ năm bước (chúng ta không lạ khi thấy bi kịch cổ điển Pháp chẳng hạn nói chung gồm năm hồi theo khuôn mẫu Hy lạp của nó.

2 - Các kịch bản đều bằng thơ. Phần đồng ca là thơ hát phần đối thoại là thơ ngâm nói. Đồng ca trong bi kịch giữ một vai trò quan trọng. Nó là dấu vết nguồn gốc dithyrambe. Có khi nó là lời phát ngôn của tác giả có khi là lời bàn lời phê phán bình luận của công chúng nhân dân của lẽ phải của lương tri nó mang tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Trong mỗi vở kịch cụ thể đội đồng ca là đại diện của một tầng lớp nào đó trong nhân dân phục trang của nó phải theo đó mà thay đổi ví dụ: trong hai vở kịch liên hoàn Oédipe làm vua và Antigone đó là đội đồng ca các cụ già thành Thèbes. Trong đó Prométhée đó là đội đồng ca các nữ thủy thần đại dương. Trong Électra là đội đồng ca của những cô gái thành Mycènnes. Trong hài kịch Những kỵ binh thì chính đội kỵ binh thật của thành phố đóng vai Đội đồng ca. Trong hài kịch Bầy chim thì đội đồng ca mang áo có cánh và có lắp một cái mỏ chim dài.

3 - Các nhân vật trên sân khấu đều mang mặt lạ và đi hài cao cổ (cothurne). Nhất là những nhân vật hài kịch mà là đối tượng châm biếm của nhà thơ thì mặt lạ thường được vẽ giống như nguyên mẫu mà nó ám chỉ.

4 – Sân khấu có nhiều dụng cụ biểu diễn y như thật. Chẳng hạn Aristophane thường dùng chiếc xe lăn gọi là excycleme để đưa nhân vật tàn tật ra vào. Còn cảnh thì ghép sẵn cả trên sân khấu bởi vì diễn liền một mạch không có chuyện đóng màn nửa chừng. ví dụ: trong hài kịch Những đám mây sân khấu chia ra làm đôi một nửa là nhà của Ba Tròn một nửa là nhà của Socrate.

5 - Đề tài những tác phẩm bi kịch còn lại hầu hết đều rút ra từ thần thoại và truyền thuyết nhất là những truyền thuyết quen thuộc như truyền thuyết Agamemnon truyền thuyết thành Thebé truyền thuyết về Hêracles... truyền thuyết thành Troies… một ít vở lấy đề tài lịch sử như vở Quân ba tư của Eschyle.  

6 - Kết cấu từ chỗ còn hết sức đơn giản mang tính thuần túy tự sự và trữ tình như trong những thiếu nữ cầu xin chỉ qua có vài ba mươi năm phát triển mà đã đạt đến đỉnh cao về sự chặt chẽ lôgic như trong 0édipe làm vua của Sophoche Médée của Euripide.
Người Hi Lạp xưa có những khả năng kỳ diệu để vươn tới đỉnh cao của văn hộc nghệ thuật. Không qua một mẫu mực có sẵn nào họ đã tìm tòi sáng tạo hình thành và khẳng định đủ các loại hình văn học chính và đúng với trình tự lịch sử logic của nó: anh hùng ca thơ trữ tình truyệnký (lịch sử) kịch hùng biện về cả hai mặt lý luận cũng như thực tiễn với những tác phẩm bất hủ mà không một giai đoạn nào về so sánh được. Đó là những bài học vô giá về các phương diện hiểu biết cuộc sống và con người đấu tranh cho lẽ phải và đạo lý nghệ thuật và văn chương. 


           III NHỮNG NGÔI SAO SÁNG MÃI.

            Thế kỷ thứ V trước công nguyên có một năm rất đáng ghi nhớ đối với người Hy – lạp: đó là năm 480 năm mà quân đội Athènes dưới sự chỉ huy tài tình và cương quyết của người anh hùng dân tộc Thémistocle đại thắng quân đế quốc Ba - Tư trong trận thuỷ chiến Salamine: Không đầy ba trăm thuyền chiến nhẹ của Athénes tiêu diệt trên một nghìn hai trăm thuyền chiến hạng nặng của địch... năm ấy ghi lại ba sự kiện liên quan tới ba  nhà thơ bi kịch lớn nhất của Hy – lạp:
- Eschyle bốn mươi lăm tuổi có mặt trong hàng ngũ đoàn quân chiến thắng trở về.
- Sophocle mười sáu tuổi điều khiển Đội đồng ca Thành bang múa và hát khúc khải hoàn trong ngày hội toàn Athénes mừng chiến thắng.
-Cậu bé Euripide khóc tiếng khóc chào đời ngay tại đảo Salamine.
Ba nhà thơ gặp nhau trong một ngày hội mừng chiến thắng chưa từng có của Tổ quốc sẽ còn gặp nhau trong những ngày thi thố tài năng để rồi vĩnh viễn bên cạnh Nữ thần Bi kịch Melpomène kề vai sát cánh bên nhau tên tuổi bên nhau hình ảnh bên nhau tác phẩm bên nhau trong  vầng hào quang chói lọi nhân loại dành cho họ trên lịch sử thi đàn sân khấu.


            ESCHYLE 
(525- 456 trước công nguyên). 

            Không có tư liệu lịch sử nào nói rõ về cuộc đời của Eschyle. Chỉ biết nhà thơ sinh năm 525 có tham gia trận đánh thắng quân Ba-Tư năm -490 (trận Marathon) năm -480 (trận Salamine) và năm 479 (trận Platée). Ông đã sáng tạo 70 vở kịch và 20 vở Satire nhiều lần dự thi và trên 10 lần được giải nhất. Tiếc thay ngày nay chỉ còn lại 7 tác phẩm:

           1 - NHỮNG THIẾU NỮ CẦU XIN có thể nói là một trong những tác phẩm đầu tiên của Eschyle. Vở kịch nặng về tính chất tự sự và trữ tình hầu như chưa có gì thật sự là hành động kịch. Nó kể lại câu chuyện năm mươi  cô gái của Danaos - cháu năm đời của Êpaphos (Epaphos là con trai của Zeus với nàng Io (xem Prométhée bị xiềng  câu 1110 – 1123)- chạy sang đất Argos (Hi – Lạp) xin với vua xứ này được trú ngụ tại đây để tránh cuộc hôn nhân phi đạo lý với năm mươi người anh em của họ.

            2 - QUÂN BA – TƯ (472 trước công nguyên) đề tài lịch sử là một vở kịch khác đặc biệt của Eschyle ông ca ngợi mưu trí và tinh thần chiến đấu dũng cảm và chiến thắng của người Hi – lạp không trực tiếp bằng những nhân vật chính diện Hi lạp mà thông qua miệng lưỡi một người lính Ba Tư thất trận kể lại cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai thành Atossa và nỗi kinh hoàng tuyệt vọng của triều đình Ba Tư trước cái tin sét đánh.
             3 - BẢY TƯỚNG ĐÁNH THẦN THÈBES (467 trước công nguyên) đề tài lấy ở truyền thuyết  gia đình Lapdacos kể lại cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai thành Argos và” Thèbes – bảy cổng” gây ra do mâu thuẫn giữa hai người con trai của Édipe: khi vua thành Thèbes là Édipe phát hiện ra chính mình đã giết cha và lấy mẹ thì ông tự móc mắt và trục xuất mình ra khỏi thành trao quyền lại cho hai con trai là Polynice Étéocle. Hai anh em đã ước định với nhau rằng mỗi người sẽ thay phiên nhau nắm quyền cai trị nước một năm nhưng Étéocle sau khi đã làm vua say mùi quyền bính không chịu trả ngôi báu lại cho anh lại còn mưu mô cùng với cậu là Créon trục xuất Polynice đi. Polynice giận giữ chạy sang Argos lấy con gái vua là  Adraste rồi thuyết phục được Adraste cất quân sang vây hãm thành Thèbes: Ở sáu cổng thành chống với sáu tướng Argos do Polynice chỉ huy Etéocle bố trí sáu tướng Thèbes do mình lãnh đạo và dành cổng thứ bảy cho chính mình đánh nhau với anh. Kết quả là Argos thua nhưng cả hai anh em Polynice và Étéocle đều tử trận.
              4 - PROMÉTHÉE BỊ XIỀNG (không rõ năm biểu diễn dự đoán có thể năm 469 trước công nguyên) đề tài thần thoại kể lại cuộc đấu tranh bất khuất của vị thần khổng lồ Prométhée vì đánh cắp lửa của mặt trời mang về cho nhân loại và dạy cho con người biết khoa học kỹ thuật văn minh nên bị Zeus trừng trị xiềng xích chân tay và đóng đinh xuyên ngực vào đỉnh núi Caucase.Bộ ba ORESTIE đề tài lấy ở truyền thuyết Agamemnon gồm ba vở nối tiếp nhau theo thứ tự lịch sử:

                   5 - Agamemnon: Agamemnon vua thành Argos là tổng chỉ huy quân đội Hy Lạp trong cuộc chiến tranh thành Troies. Sau khi chiến thắng trở về ông đã bị vợ là Clytemnestre tư thông với Egisthe (là em con chú của Agamemnon) giết chết và tiếm ngôi. Người con gái của Agamemnon là Electra cứu được em trai là Oreste giao cho người sư phó (người săn sóc dạy dỗ) đưa trốn sang nước Phocée để sau này trở về trả thù cho cha.
                  6 - NHỮNG THIẾU NỮ VIẾNG MỘ        (Les Choéphores) -Hai mươi năm sau Oreste trở theo ý định của Thần linh cùng với chị lọt vào được trong cung điện giết hai tên gian phu dâm phụ báo thù được cho cha.

                  7 - NHỮNG NỮ THẦN ÂN ĐỨC (Les Euménides)- Nhưng mặc dù việc báo thù cha là chính đáng Oreste vẫn bị các nữ thần báo oán Erinny theo đuổi ngày đêm. Oreste chạy đi đâu cũng không thoát nổi họ. Nữ thần Athéna phải đứng ra dàn xếp. Nàng lập một toà án để xét xử Oreste. Apollon là người bào chữa. Toà án xét xử khá gay go. Apollon biện luận hết tài năng nhưng khi bỏ phiếu kín thì số phiếu chống và thuận ngang nhau. Với tư cách là chủ tịch Athéna đứng về phía thuận. Thế là Oreste được trắng án. Các nữ thần báo oán Erinny được giao thêm trách nhiệm mới họ trở thành những nữ thần ân đức chuyên ban hạnh phúc cho nhân dân Athènes.
Bộ ba Orestie phản ánh hiện thực nào?Theo lời thần dạy trước đây để có gió thuận cho quân đội Hy Lạp viễn chinh sang thành Troie Agamemnon đã phải hy sinh con gái mình là Iphigénie tại Aulis. Khi thắng trận trở về ông bị vợ là Clytemnestre giết. Để thanh minh cho hành động giết chồng đó bà ta viện lý do là báo thù cho con gái bà Iphigénie. Trừng trị tội giết chồng này Oreste đã giết cả Egisthe và Clytemnestre để báo thù cho cha và được thần linh khuyến khích giúp đỡ và cuối cùng vảo vệ cho Oreste được trắng án có nghĩa là việc giết mẹ báo thù cha đó là chính đáng đúng luật lệ thần linh. Thắng lợi của Oreste phản ánh một bước tiến hoá quan trọng trong xã hội: chế dộ mẫu hệ đang phải nhường bước cho chế độ phụ hệ và trong tình hình chính trị của Hy Lạp thì quyền lực hội đồng Aréogage của tầng lớp quý tộc đang cầm quyền bị lung lay phân hoá trước cuộc đấu tranh của những lực lượng cộng hoà dân chủ. Đây là lúc các nữ thần ân đức đang được đưa vào thời lhượng tại Athènes.Sau khi biểu diễn bộ ba Orestie năm -458 Eschyle rời Athènes sang Géla một thành phố của Sicile và hai năm sau ông mất tại đó thọ sáu mươi chín tuổi.Tuy chỉ còn lại bảy tác phẩm nhưng chừng ấy cũng đủ để xác định vai trò lớn lao của Eschyle trong lịch sử phát triển của nền bi kịch cổ đại. Từ Những thiếu nữ cầu xin cho đến bộ ba Orestie tác phẩm cuối cùng của ông Eschyle đã đề cập tới những vấn đề xã hội tiêu biểu liên quan đến những chặng đường phát triển nhất định của lịch sử. Sự đấu tranh cho chế độ hôn nhân cá nhân – một vợ một chồng – thay cho chế độ tạp hôn tinh thần đấu tranh mưu trí và dũng cảm chống xâm lược bảo vệ đất nước sự lên án những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sự nghiệp đấu tranh kiên cường chống bất công và bạo lực vì nền văn minh tiến bộ và hạnh phúc của loài người sự khẳng định tội ác phải trừng phạt… đó là nhưng vấn đề lớn có tầm nhân loại chứ không phải những tình huống cá nhân. Eschyle là người mở đường đưa vào kịch những tư tưởng cao đẹp những ước vọng trong sáng về một xã hội có quy củ vững vàng xây dựng trên cơ sở có một nhà nước vững mạnh. Ông xứng đáng là người đại diện cho thời kỳ đầu của một chế đô cộng hòa phơi phới trẻ trung đang hình thành và được khẳng định. Ngoài những tác phẩm ưu tú của mình Eschyle đã góp phần nhiều cho sự phát triển và hoàn thiện dần hình thức nghệ thuật sân khấu. Thespis đã có công tách từng đội đồng ca ra một diễn viên làm cho hình thức kịch được tách ra khỏi hình thức nghi thức tôn giáo để thành một loại hình nghệ thuật có cuộc sống riêng. Eschyle đưa thêm một diễn viên thứ hai rồi Sophocle một diễn viên thứ ba là thật sự mở ra cho kịch một chân trời mới thênh thang. Ông còn chú trọng nhiều đến các mặt phục trang nhân vật trang trí sân khấu thêm những màn múa nhảy... khiến cho hình thức của sân khấu ngày càng phong phú đa dạng ngày càng hấp dẫn và có đủ điều kiện để đạt tới đỉnh cao rạng rỡ của nó với Sophocle. 


                SOPHOCLE      
(496-406 trước công nguyên).

                 Nếu Eschyle là nhà thơ tiêu biểu cho buổi bình minh của chế độ cộng hòa thì SOPHOCLE tiêu biểu cho thời kỳ cực thịnh của nó thời kỳ Pêriclès.
Là người được các Nữ thi thần ban nhiều ân huệ lại được chịu một nền văn hóa vững chắc Sophocle đã phát triển tài năng rất sớm. Năm 480 cậu thiếu niên mới 16 tuổi Sophocle đã chỉ huy cả một đội đồng ca quy mô toàn thành múa hát mừng tổ quốc Athènes chiến thắng. Hai năm sau chàng thanh niên Sophocle đã xuất hiện trên sân khấu Athènes để tranh giải trong các hội thi. Từ đó suốt bảy mươi năm không ngừng ông cống hiến tài năng lỗi lạc và cả nhiệt huyết của mình cho sự nghiệp sân khấu.Với tư cách là một công dân tích cực của Chế độ Cộng hòa Sophocle đã tham gia chính quyền được bầu làm stratégos một chức vụ tương đương thành viên hội đồng Nhà nước. Ông đã làm tròn trách nhiệm của mình cũng có đôi thành tích. Nhưng bên cạnh nhà thơ bi kịch thì nhà hoạt động chính trị trở thành mờ nhạt.Theo tài liệu để lại   ông đã sáng tác và trình diễn 20 vở kịch 20 lần đoạt giải nhất trong các hội thi nhiều giải nhì và giải ba thì không bao giờ cả. Hiện nay ông chỉ còn bảy vở: Ajax giận dữ Những phụ nữ Trachinie Philoctète Édipe ở Colone Antigone Electra.
                
                1 – AJAX GIẬN DỮ :
đề tài lấy trong truyền thuyết chiến tranh thành Troie. Sau khi Achille bị Paris em của Hector bắn chết bởi một mũi tên trúng ngay gót chân thì xảy ra cuộc tranh chấp giữa Ajax và Ulysse cả hai tướng tài này ai cũng muốn chiếm một vũ khí thần thánh của Achille về mình... cuối cùng Ulysse được. Ajax giận dữ hóa điên lao vào giữa một đàn cừu mà tan sát vì tưởng đó là quân Hy – Lạp trong đó có Ulysse và hai anh em Ménélas và Agamemnon.
Tỉnh ra Ajax biết mình sai lầm hối hận và đau xót chàng đã tự tử. Hai anh em Agamemnon căm thù không cho mai táng. Nhưng Ulysse cao thượng và nghĩ tình đồng đội đã từng chiến đấu vào sinh ra tử bên nhau đã chống lại lệnh cấm đó và cùng với Teucer em của Ajax chôn cất cho chàng.
             
                2 - NHỮNG PHỤ NỮ THÀNH TRACHINIE đề tài lấy trong truyền thuyết Heraclès. Đây là câu chuyện nàng Djanyre con gái vua Éneé xứ Calidon.. Heraclès sau mười hai chiến tích lẫy lừng đã được trả lại tự do. Chàng đã dũng cảm chiến đấu với thần chết Thanatos buộc thần chết phải để cho Alkestis vợ vua Admète được sống lại đánh chiếm thành Troie giúp các thần linh diệt bọn Khổng lồ rồi đến xứ Calidon lấy con gái vua xứ đó là Djanyre làm vợ đưa về Tyrinthe .Giữa đường gặp con sông Evénos nước chảy cuồn cuộn chàng thuê con nhân mã (đầu người mình ngựa) Nessos cõng Djanyre sang sông còn chàng sẽ lội qua theo. Con nhân mã mê sắc đẹp của nàng âm mưu bắt cóc nàng đi liền bị Heraclès giương cung bắn chết. Nhưng để trả thù Nessos cởi chiếc áo đẫm máu của mình trao cho Djanyre và dặn rằng: sau này nếu Heraclès phụ tình hãy đưa chiếc áo này cho chàng mặc là lập tức chàng trở lại với tình xưa... Cách đó ít lâu nghe tin chồng toan yêu một người con gái khác Djanyre bèn gửi chiếc áo đẫm máu của con nhân mã cho chàng. Không ngờ máu độc con long xà giết chết Nessos đã thấm vào chiếc áo vẫn còn tác dụng như trước. Heraclès mặc chiếc áo ấy vào cũng đã bị… chết luôn không cách nào cứu chữa. Djanyre đã giết chồng khi tưởng làm cho chồng trở lại tình yêu xưa. Và Heraclès đã chết vì chính mũi tên của mình tẩm độc. Bị hối hận giày vò Djanyre đã tự sát.
                  3 – ANTIGONE đề tài lấy trong truyền thuyết gia đình Lapdacos của thành Thebes cũng như tác phẩm Bảy tướng của Eschyle. Đây là một vở kịch giàu chất chiến đấu và nhân đạo... Nó lên án quyết liệt chính sách cai trị tham tàn độc đoán muốn củng cố quyền uy bằng giết chóc. Nó thể hiện nguyện vọng của nhân dân muốn có một chính quyền thật sự dân chủ xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyền dân chủ và quyền người. hoà hợp  pháp lý và nhân đạo.

                  4 - ÉDIPE LÀM VUA diễn tả những nỗi đau thương vô bờ bến của một con người mà tiền định là sẽ giết cha lấy mẹ. Édipe đã tìm mọi cách để giẫy ra khỏi tiền định nhưng không thể nào giẫy ra được. Sau khi phát hiện ra tội lỗi hoàn toàn vô ý thức của mình Édipe đã tự giải quyết lấy số phận của mình một cách cực kỳ dũng cảm mà hợp với đạo lý; để cứu lấy nhân dân thành Thebes mà ông đang làm vua qua khỏi bệnh dịch nguy hiểm theo đòi hỏi của thần linh ông đã tự móc mắt và trục xuất mình ra khỏi Thành bang mà ông xiết bao yêu quý.
                 
                    5 – ÉLÉCTRA- đề tài lấy ở truyền thuyết Agamemnon; nội dung tương tự như vở thứ hai trong bộ ba Orestie:
Sau 20 năm trốn ra nước ngoaì để tránh bàn tay tội ác của mẹ Oreste trở về Mycènes cải trang thành một người khách Phocée liên lạc được với chị là Électra rồi hai chị em lập mưu vào được trong cung điện giết Clytemnestre và Égisthe hoàn thành được nhiệm vụ trả thù cho cha.

                   6 - PHJLOCTÈTE: đề tài lấy ở truyền thuyết chiến tranh thành Troie. Trước khi chết Héraclès trao cho Philoctète cây cung thần diệu cuả mình. Trên đường viễn trinh sang Troie; Philoctète bị tai nạn què chân không đi theo đoàn quân được bị bỏ lại ở đảo Lemnos. Chiến tranh kéo dài lâu quá rồi quân Hy – lạp không làm sao hạ nổi thành. Thần cho biết phải có chiếc cung thần kỳ của Héraclès hiện đang do Philoctète giữ. Ulysse và Néoptolème (tức Pyrrhus con trai của Achille) bàn nhau sang Lemnos lừa  Philoctète lấy được chiếc cung đó. Nhưng Néoptolème day dứt lương tâm không đành để Philoctète tay không đau yếu ở lại một mình trên đảo Lemnos hoang vắng bèn nói hết sự thật với chàng và trả lại chiếc cung. Philoctète nổi giận định bắn chết Ulysse thì Héraclès xuất hiện động viên Philoctète lên đường cùng với Ulysse và Néoptolème sang tham gia cuộc chiến ở Troie. Thần Esculape (thần thầy thuốc) sẽ đảm bảo chữa cho chàng lành vết thương.

                      7 - Vở kịch cuối cùng của Sophocle là ÉDIPE Ở COLONE   . Ông viết vở này vào hoàn cảnh con cái ông đối xử với cha không phải đạo.
Édipe sau khi tự móc mắt mình và trục xuất mình ra khỏi thành Thebes được con gái là Antigone dắt đi sang đất Colone- tức Athènes – lúc này do Thésée ông vua anh hùng giỏi nhất Thành bang trị vì. Thésée rất vui lòng niềm nở đón tiếp con người khốn khổ đó. Vì  có lời sấm báo trước rằng ngôi mộ của Édipe ở đâu thì xứ đó được thần thánh ban cho đầy ân phúc tên Créon đang lăm le chiếm ngôi vua tới gặp Édipe toan dùng bạo lực mời ông về để “bảo vệ cho thành Thebes” bị Thésée chặn lại. Polynice con trai Édipe đã chạy sang Argos mưu toan mang quân đánh lại em mình là Étéocle để tranh giành lại ngôi vua cũng có ý định đón cha về để bảo vệ cho mình chiến thắng. Cả hai đều bị ông từ chối. Ông quyết định sẽ chết và chôn tại đất Colone xứ sở của vua Thésée anh hùng cao thượng và hiếu khách.Đây là một tác phẩm chứa đựng niềm tự hào đẹp đẽ về đất nước Athènes và một lơì chúc cuối cùng của nhà thơ cho thành phố quê hương xiết bao yêu thương của mình mãi mãi sẽ được hưởng nhiều ân huệ và sự thương yêu chăm sóc của thần linh.Người ta kể lại rằng khi tòa án mời ông đến giải quyết mối bất hòa giữa các con ông với ông ông đã đưa kịch bản này thay vào lời trình bày sự việc. Sau khi xem song ai lấy đều xúc động đứng lên công kênh ông và mối bất hòa gia đình cũng tự nhiên được giải quyết.Hai năm sau Sophocle mất thọ chín mươi tuổi.


           Bi kịch Hy lạp thực sự ra đời với Eschyle đã thực sự trưởng thành hoàn thiện và đạt tới đỉnh cao nhất của nó với Sophocle không những trong tổ chức kết cấu cốt truyện mâu thuẫn hành động kịch trong sự bố trí Đội đồng ca trong lời thơ đối thoại mà cả trong tư tưởng chủ đề trong nội dung và phương pháp phản ánh ở từng tác phẩm một : Sophocle bỏ hình thức bộ ba để thực hiện sự hoàn chỉnh nghệ thuật trong mỗi một tác phẩm chặt chẽ hơn nữa trong mỗi lớp mỗi hồi. Édipe làm Vua và Aritigone là những ví dụ điển hình.
Hai nhà thơ hơn kém nhau không đầy 30 tuổi.Vấn đề ở đây không phải chỉ ở kinh nghiệm và thời gian mà chủ yếu ở quan niệm tâm hồn và phong cách. Eschyle nhìn xã hội và con người ít nhiều qua lăng kính thần thoại cái nhìn khái quát và giàu màu sắc lãng mạn. Một Prométhée bị Zeus xiềng vào núi đá một Oreste giết mẹ trả thù cho cha rồi thoát được sự theo đuổi của các nữ thần báo oán Erinny nhờ có bàn tay và trí tuệ của nữ thần Athéna can thiệp... Con người dưới ngòi bút của Eschyle hình như thoát được tính chất một thứ đồ chơi trong bàn tay của định mệnh vô hình khắc nghiệt. Nhưng dưới ngòi bút của Sophocle con người đã biết tách mình ra đối lập với định mệnh giữ tự do và chủ động.Trong mọi hành vi và dù cho có bị định mệnh ràng buộc đến mức độ khắc nghiệt nào đi nữa thì con người vẫn đủ sáng suốt và nghị lực để tự giải quyết lấy số phận của mình theo cái hướng mà mình cho là đúng đắn nhất hợp lẽ đời nhất. Ngay cả trong cái chết con người của Sophocle cũng không buông xuôi. Djanyre tự tử. Antigone Hémon Eurydice tự tử Jocaste tự tử Édipe tự móc mắt mình và tự trục xuất. Nhiều cái chết lắm. Bi kịch không đâu bằng. Nhưng mỗi cái chết đều có sự chủ động của nhân vật.  Antigone trước khi bị Créon tuyên án đã biết mình sẽ chết và mong chờ cái chết để vĩnh viễn được sum họp với những người nàng mến nàng thương... Hêmon tự tử để chứng minh cho cha rõ chính sách cai trị bạo tàn độc đoán và bảo thủ của ông ta mang đến những hậu quả tai hại như thế nào cho Thành bang và cho chính bản thân ông. Jocaste tự tử không phải là đầu hàng số mệnh mà là trực tiếp chống lại số mệnh và bị lương tâm cắn dứt khi đã giết con để tránh hậu họa cho mình... Và Édipe Édipe suốt cả cuộc đời ông đã đấu tranh không ngừng để làm cho câu sấm của Apollon trở thành vô nghiệm tức là để phủ nhận định mệnh. Đến khi thấy câu sấm của thần ứng nghiệm Édipe vẫn không nhắm mắt đưa chân không muốn mượn sợi dây kết thúc cuộc đời đau đớn. Vì ông còn có một cái đầu biết suy nghĩ sáng suốt và một trái tim dào dạt tình cảm con người. Ông không chết vì chết về âm phủ gặp lại mẹ cha sẽ biết ăn làm sao nói  làm sao? Ông cũng không thể sống bình thường để luôn luôn nhìn thấy các con kết quả cuộc hôn nhân tội lỗi. Để tự phạt mình về hai cái tội mà hoàn toàn không phải là do ông làm ra mà do định mệnh buộc vào cho ông đó ông đã tự móc mắt mình và tự trục xuất ra khỏi Thành bang quê hương mà ông đã từng yêu mến cứu vớt... Cho đến phút cuối cùng hành động cuối cùng ý nghĩ cuối cùng Édipe vẫn chủ động tự mình giải quyết số phận của mình tự mình chịu trách nhiệm về mọi hành vi thái độ của mình đúng với cái điều mà lý trí và lương tâm đã chọn.Nhân vật của Sophocle là như thế bao giờ cũng tỉnh táo sáng suốt và giàu nghị lực mà tình cảm vẫn sâu sắc dạt dào. Aristote nhận định đúng rằng Sophocle miêu tả con người không phải như nó đang tồn tại mà như nó phải vươn lên. Bi kịch Sophocle vì vậy mang ý nghĩa đạo lý sâu sắc là những bài học tốt cho việc xây dựng tính cách con người. EURIPIDE xuất thân trong một gia đình quý tộc học rộng tài cao có giao thiệp với những nhà triết học danh tiếng đương thời như Socrate Anaxagoras  (vừa là bạn vừa la thầy của Euripide va Périclès) hoặc Protagoras nhà ngụy biện nổi danh: ông có chịu ảnh hưởng của họ ít nhiều nhưng không theo trường phái ai cả.Tác phẩm đầu tiên của Euripide được biểu diễn những năm 455 trước công nguyên một năm sau khi Eschyle mất. Từ đó cho đến lúc qua đời ông đã sáng tác 92 vở nhưng trong cuộc thi phần lớn là thất bại chỉ trúng giải nhất được 4 hoặc 5 năm. Bi kịch của ông có mặt không giống với bi kịch của Eschyle và Sophocle; có lẽ vì thế mà công chúng chưa quen thưởng thức chưa đánh giá cao chăng?Nửa không vui vì gặp nhiều thất bại trong nghệ thuật nửa buồn vì cuộc sống riêng tư chắc có những éo le ông đã rời Athènes sang xứ Magnesie tới ở cung vua Macédoine là Archélaos vào năm 480 trước công nguyên và hai năm sau thì qua đời tại kinh thành Pella. Cứ cái tên mà người ta khoác cho ông – “kẻ ghét đàn bà” – ta cũng có thể đoán được Euripide chắc chắn nhiều lần đau khổ trong tình yêu tới một lúc nào đó đối  với phụ nữ ông đâm ra mất lòng tin tưởng. Câu nói chua chát ông đặt vào miệng Mêdée có thể là một bằng chứng về sự việc này: “thiên nhiên đã tạo ra đàn bà chúng ta làm điều thiện thì hoàn toàn bất lực mà làm điều ác thì chúng ta là những người thợ lành nghề”. Nửa do bản tính con người nửa do hoàn cảnh tác động tính tình ông luôn sầu bi cau có thích sự yên tĩnh cô đơn. Điều rất đáng chú ý là trọn cuộc đời ông không hề tham gia và nhận một chức vụ nào dù nhỏ trong bộ máy Nhà nước không có chân trong Hội đồng năm trăm

More...

CƠ SỞ CẢM HỨNG CỦA THƠ CA TRỮ TÌNH PHƯƠNG ĐÔNG

By


              Chúng ta có thể rất ngạc nhiên khi vừa đọc xong cuốn René và Atala của Chateaubriand (thế kỷ XIX)  rồi đọc cuốn Le Cid của Corneille (thế kỷ XVII Pháp) vì một cuốn thi tràn đầy màu sắc cảnh vật và một cuốn dài 1840 câu thơ mà chỉ co một câu duy nhất nói một chút đến thiên nhiên

                        “Cette obscure clarté qui tombe des étoiles"

                          (Trong ánh nhạt mờ từ trời sao toả xuống” 
                                                        (Le Cid IV 3- câu 1273)


          Nhưng nếu dở một tập thơ tiếng Việt hay một tập thơ Tống Đường Trung Quốc thi đâu  cũng có ở mức độ đậm nhạt khác nhau hình ảnh con ngưòi (
tình) lồng vào trong hình ảnh thiên nhiên hay sinh hoạt xã hội.(cảnh). Ngay  bài đầu  của Kinh Thi  đã là những câu tả tình lồng trong tả cảnh :

              “Quan quan thư cưu -  Tại Hà chi châu

                            Yểu điệu thục nữ – Quân tử hảo cầu.
                          Tiếng kêu ríu rít thư cưu – Đôi chi mâu yếm bải sau sông Hà”            
                         
Nết na cô gái mặn mà – Cùng chàng trai tốt thật là xứng đôi)
 

Và hầu hết mọi bài Kinh Thi đều vậy. Bài Bảo vũ –
Chim bão đập cánh : “Túc túc bảo dực – Tập vu bão cứcVương sự mĩ cổ – Bất năng nghệ thử tắc. Phụ mẫu hà thực – Du du thương thiên Hạt kỳ hữu cực ?(Xè xè chim bảo bay cao – Đang bay dừng cánh đậu vào cây gai. Việc Vua làm mãi làm hoài – Lúa thử luá tắc laấy ai cấy trồng? Mẹ cha biết lấy gì ăn? – Trới xanh thăm thẳm biết làm sao đây? Bao giớ cho hết khổ này ?                        
           Kinh Thi tinh tuyển Phạm thị Hảo
 NXB Đông Nai 1999
.

Kinh Thi
cũng như Ca dao Việt Nam là sáng tác tập thể đời này qua đời khác vô danh của nhân dân lao động Trung Quốc mà chủ yếu và đầu tiên là người dân tộc Hán. Nó thể hiện nguyên vẹn cái tâm hồn và cái bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc là ngọn nguồn bất tuyệt của mọi sáng tạo  văn hóa nghệ thuật  sau này. từ Ly Tao của Khuất Nguyên qua thơ Tống thơ Đường vẫn   nguyên vẹn… Bài thơ  Đằng vương các của Vương Bột là một tỷ dụ rất cụ thể:  


Đằng vương cao các lâm giang chữ
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ           
Hoa đống triêu phi Nam phố vân
           
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vu…”
                       
Gác Đằng cao ngất bãi sông thu
                       
Ngọc múa vàng reo nay thấy đâu
                       
Nam phố mây mai  quanh nóc vẽ
                       
Tây sơn mây tối cuốn rèm châu…”


Những bài như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu bài   Khuê oán của Vương Xương Linh bài Trường Tương tư của Lý Bạch cũng giống những bài thơ của Nguyễn Trãi (Côn Sơn ca) Nguyễn Du (Long thành cầm giả ca…) Hồ Xuân Hương Phạm Thái (Văn tế Trương Quỳnh Như) Cao Bá Quát Nguyễn Khuyến các nhà thơ thời kỳ 193o-45 như Thế Lữ Huy Cận Xuân Diệu Nguyễn Bính (Lỡ bước sang ngang) Hàn Mặc Tử (Đây thôn Vĩ Dạ) đặc biệt thơ Hồ Chủ Tịch àn MạHàn Mâc TửHH    
 đều  là lấy cảnh tả tình tình lồng trong cảnh quyện vào nhau không thể cắt chia: Như vậy đó thi hứng  xuất hiện theo trình tự  tự nhiên trong  mối quan hệ giữa tình với cảnh bởi vì trong thực tế con người luôn luôn sống trong cảnh và cảnh luôn ấp ủ con người. Ở Việt Nam thế :           
“Khi vui non nước cũng vui
Khi buồn sáo cặp đàn đôi cũng buồn”
  
hay là 
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

 Ở Trung Quốc cũng thế

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thượng thuý lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu!  
(
Khuê oán)

Trẻ trung nàng biết chi sầu

Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương                        
Nhác trông vẻ liễu bên đường

“Phong hầu” nghĩ dại xui chàng kiếm chi?

Ở  Nhật Bản cũng thế

“Ôi: những lá khô vàng
Rơi rơi trên đồi thu mang mang
Hãy ngừng rơi chốc lát
Ngừng quay cuồng đảo điên quấn quít
Cho ta nhìn lại mái nhà em”                                   
Đoản ca - Tanka

Trèo lên ngọn tháp cao
Trên chòm cây sam kià cánh bướm
Bay rập rờn xôn xao”…
                                   
Hải ca -Kaiku
                        
       Trích Hoà Ca - Waka Nguyễn Tường Minh
Sông Thao Saigon 1971
 

Đến những bài thơ dài như  Trường hận ca hay Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị cũng giống như Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.. thì cảnh và tình phối hợp với nhau một cách   tuyệt diệu hài hoà và phát triển nhịp nhàng như  sóng đại dương. Đây là một dấu hiệu và cũng là một  tiêu chuẩn của những kiệt tác  văn chương nói chung nhưng đặc biệt đậm đà và phổ biến là trong thơ ca phương Đông:
 
“Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
                      
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty… 
           
…Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông…
                       
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong
Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời… 
                                                          
                         (Bạch Cư Dị –
Tỳ bà hành)
                        

 
Cảnh đây là cảnh thiên nhiên la cảnh sinh hoạt xã hội tình ở đây lànhững nỗi buồn vui ai oán những nỗi éo  le trong số phận của con người đối chiếu với thực tế cuộc sống xung quanh với thiên nhiên và chính sự đối chiếu đó là nguồn gốc làm nẩy tuôn ra những ý thơ : đối cảnh sinh tình. Trong Chinh phụ ngâm cái nguyên lý ấy  thể hiện rõ ràng từ đầu cho đến cuối khúc ngâm: cái tình cảm của người vợ nhớ thương chồng dược diễn đạt khi ẩn khi hiện quyện chặt vào với cảnh một cách hài hoà thấm thiết :
           

“Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
                       
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền….                         
Thư tthường tới người chưa thấy tới
           
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
                       
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai!

             

Nhưng trong thơ Việt Nam có lẽ không đâu nguyên lý ấy lại được thể hiện sâu sắc toàn diện và phong phú  với một nghệ thuật hoàn hảo cho bằng trong  Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Nghiên cứu kỹ ta co1 thể hình dung quá trình phát sinh cảm hứng của ông khi viết tập truyên thơ đó có thể là như sau :   đọc  Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (tên thật là Từ Văn Trường)  ông cảm nhận được tất cả nỗi đoạn trường của Thuý Kiêu như của một người con gái của đất nước Việt Nam bị cả xã hội phong kiến đương thời của Viêt Nam vùi dập . Ba  yếu tố :con người phong cảnh  và xã hội  Việt Nam được tư duy và cảm xúc đồng thời cùng một lúc và được thể hiện ra Truyện Kiều như một hình tượng văn học đa dạng thống nhất trong khung cảnh xã hội phong kiến Việt Nam gắn liền với  bản chất nhân đạo  sâu sắc mênh mông  và qua ngòi bút tài hoa của tác giả.           
Truyện Kiều đứng về bút pháp mà nói là một cấu trúc  tuyệt đẹp của bút pháp tả cảnh thiên nhiên tả cảnh sinh hoạt tả chân dung tâm lý tính cách con người (các nhân vật) bằng nhiều cách :
  

1-Cách thứ nhất: tả riêng lẻ cái trước cái sau   như  đoạn Thuý Kiều đi thanh minh : - tả cảnh thiên nhiên cảnh sinh hoạt trước:
                       

Ngày xuân con én đưa thoi…
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa                       
“Thanh minh trong tiết tháng ba…
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.”;  -
tả người tả tình sau:
                       
“Gần xa nô nức yến oanh……
           
…Thoi vàng hồ  rắc tro tiền giấy bay.”

 
2-Cách thứ hai :   tả cảnh để tả người 
(Thuý Kiều gặp gỡ Đạm Tiên)
                       
Tà tà bóng ngả về tây
……..
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi”..           

3-Cách thứ ba :   tả tình và cảnh lồng vào nhau (cuộc gặp gỡ Thuý Kiều –Kim Trọng) : tả cảnh trang nhã phù hợp để đưa tình vào –tình đây là tình  cảm  của Kiều đang thương xót Đạm Tiên thì gặp Kim Trọng rồi lại lấy cảnh buồn để kết thúc cuộc gặp gỡ không có gì là vui và hy vọng ấy: gặp gỡ tình yêu bên mộ người bạc mệnh. Đây là  cảnh ôm lấy tinh tình nằm trong vòng tay của cảnh.
 Ở đoạn  Kiều tiễn Kim Trọng về Liêu Dương cũng vậy cảnh mở đầu và cảnh kết thúc ôm lấy tình lưu luyến tiễn đưa  :
Liêu Dương cách maấy sơn khê
…..
Buồn trông phong cảnh quê người        
Đầu cành quyên hặt cuối trời nhạn thưa”.
 

4-Cách thứ tư: tả tình và cảnh  qquyện vào nhau trong từng lời từng chữ từng nhịp điệu âm thanh như ở đoạn Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích  -buồn:
           
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một mầu xanh xanh…”

 Hay đoạn miêu tả Từ Hải sau khi đã thực hiện chuyện báo ân báo oán cho Thuý Kiều xong (vui):                       
“Thừa cơ trúc chẻ ngói tan
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài
Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà
Đòi phen gió quét mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi năm…”
 

Tuy nhiên thơ trữ tình cũng có những bài kiệt tác trong đó hầu như hoàn toàn vắng bóng thiên nhiên; cảnh  ơ đây không được vẽ thành chữ mà rất  hiện diện đằng sau những lới than oán trách phận trách trời  nó hoà nhập làm một với niềm tâm sự u uất bất bình của nhân vật;  cảnh  ở những bài thơ này là chính cái xã hội đã gây ra  đau khổ của con người. Đó là trường hợp những bài thơ Đỗ Phủ như bài Bắc chinh –
Lên Bắc hay bài Từ Kinh đô về huyện Phụng Tiên:


“Đất Đỗ lăng có chàng áo vải

Tuổi càng già càng dại càng khờ           
Ví mình với Tắc Tiết xưa
Bạc đầu chịu  kiếp sống thừa chua cay…”
 

Cái phong cách thơ đối cảnh sinh tình trong nền thơ ca nào cũng có hiện diện nhưng đặc biệt trong thơ ca trữ tình phương đông nó đã hình thành và phát triển từ xa xưa  thành   một nguyên lý cơ bản chi phối một cách có hệ thống và đặc thù hầu như   mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật. Trong thơ ca trữ tình Việt Nam từ xa xưa cho đến thời kỳ hiện đại hầu như cái nguyên lý ấy vẩn nguyên vẹn rất ít thay đổi.  Nó vẫn là một biểu hiện cơ bản  của  bản sắc văn hóa dân tợc ở những bài thơ thật sự là thơ của những nhà thơ  đích thực là nhà thơ. Tất nhiên khi cuộc sống và lịch sử xã hội loài người không ngừng đổi mới thì  một ngày nào đó vài thế kỷ hay một thiên niên kỷ nữa về sau cái cơ sở cảm hứng thơ văn có thể thay đổi chút ít chưa rõ theo hướng nào nhưng chắc chắn một điều là bao lâu Việt Nam còn ở kinh độ 110 đông và vĩ độ 8-22 bắc lại  có một nền văn hoá bốn ngàn năm trên đầu và trong tim thì có lẽ không có gì thay đổi lớn. Nhân dân ta  vẫn tiếp tục sáng tác tiếp tục đẩ nền nền thơ ca dịu ngọt đáng yêu của mình    lên những đỉnh cao mới trên  cơ sở một nguyên lý  đã trở thành phong cách  đặc thù truyền thống của văn học nghệ thuật Việt Nam : đối cảnh sinh tình. - .một truyền thống đẹp tao  nhã cần được bảo tồn và phát triển.
 

TP Hồ Chí Minh ngày  25 tháng 12 năm 2002
HÀNG HỮU ĐẢN 

More...

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NICOLAS WARNERY - TỔNG LÃNH SỰ PHÁP TẠI TP HỒ CHÍ MINH VỀ TẬP DỊCH THƠ HÀN MẶC TỬ

By

                                               


PREÙFACE
                                
pour la publication bilingur de 
                       
 
DOULEURS OU POÙESIE DU DEÙLIRE
                                           

HAØN MAËC TÖÛ  Le lecteur qui tient entre ses mains le recueil de poeùsie de Haøn Maëc Töû a la chance de s’embarqur  sur une croiseøere d’une grande beauteù aø la recontre de l’amour et de la lune si souvent associese dans la litteùrature universelle La planeøte –soeur de la terre est tellement preùsente tellement enteâtante que l’on serait tenteù de parler d’une poeùsie seùleùnite.      Face aø la blancheur et au silence de la lune l’aâme freùmit se cabre; la vie reprend ses droits.      Monsieur Hoøang Höõu Ñaûn par sa traduction donne  au lecteur  francophoneø acceøs  aø cet univers rare et beau.  Qu’il en soit remercie.ù.                                              

                                   Nicolas WARNERY
                        
                   
Consul geùneùral de France aø Hochiminhville
                     
                           
LÔØI TÖÏA 
                   
Cho Taäp thô ÑAU THÖÔNG cuûa HAØN MAÏC TÖÛ 
 xuaát baûn baèng song ngöõ
 

Baïn ñoïc ñang caàm trong tay Taäp thô cuûa Haøn Maïc Töû coù theå may maén ñöôïc böôùc leân moät chieác taøu tuaàn tra nheï nhaøng vaø raát xinh ñeïp ñeå tieán leân phía tröôùc ñoùn laáy Tình yeâu vaø Traêng - hai ñoái töôïng thöôøng ñi song haønh trong vaên hoïc nhaân loïai. Coâ haønh tinh em uùt cuûa Traùi Ñaát khi naøo cuõng hieän dieän moät caùch cuï theå vaø gaém boù ñeán möùc ñoä ngöôøi ta naåy ra caùi yù nieäm veà moät neàn thô Traêng. Ñöùng tröôùc caùi maøu traéng vaø caùi laëng leõ cuûa Traêng taâm hoàn boãng ruøng mình choàm daäy: cuoäc soáng laáy laïi quyeàn haønh cuûa noù. Vôùi baûn dòch cuûa mình oâng HOØANG HÖÕU ÑAÛN môû ñöôøng cho caùc ñoäc giaû noùi tieáng Phaûp ñi vaøo caùi theá giôùi hieám hoi vaø loäng laãy aáy.  Xin ñöôïc caùm ôn oâng!                      
                        
NICOLAS WARNERY

More...

CON ĐƯỜNG THƠ CỦA HÀN MẶC TỬ

By


           Hàn Mặc Tử tên thật là Pierre – Francois Nguyễn Trọng Trí là một trong những nhà thơ lớn nổi tiếng và được nhiều người yêu mến nhất của thời kỳ đương đại. Ông sinh tại Lệ Mỹ Đồng Hới Quãng Bình ngày 22 tháng 9 năm 1912. Nguyên quán là Thanh Hóa nhưng ông nội là Phạm Nhượng bị triều đình truy nã vì quốc sự đã phải trốn vào Thừa Thiên ở làng Thanh Tân Ô Ồ đổi tên lấy họ mẹ là Nguyễn. Sau này Nguyễn Trọng Trí lấy biệt hiệu Lệ Thanh là ghép hai từ Lệ (Mỹ) và Thanh (Hoá) để luôn luôn nhớ tới nguồn gốc quê quán của mình. Thân sinh Nguyễn Trọng Trí là Nguyễn Văn Toản cháu nội của Phạm Nhượng làm chủ sự sở Thương Chính (tức thuế quan) Lệ Mỹ; mẹ là Nguyễn Thị Duy con gái một ngự y thời Tự Đức.Buổi thiếu thời Nguyễn Trọng Trí học giỏi từng phải chuyển trường theo cha ở Sa Kỳ Quy Nhơn Bồng Sơn rồi lại Sa Kỳ – Năm 1926 cha mất Trí theo mẹ về ở Quy Nhơn rồi lại ra Huế học trung học tại trường Pcllerin sau đó trở về Quy Nhơn tham gia một cuộc thi thơ do một thi xã tổ chức và đoạt giải nhất.Nhà thơ sớm phát triển ấy từ năm mười bốn tuổi đã biết làm thơ đường luật – là thể thơ khó nhất trong khoa cử ngày xưa – rất hoàn chỉnh và sâu sắc – lúc này Trí lấy bút danh Phong Trần nổi tiếng vì được nhà cách mạng Phan Bội Châu họa thơ và đề cao. Thơ Phong Trần thường được đăng ở báo Phụ nữ Tân VănLời thăm (do Bùi Tuân chủ bút). Cũng vì mối quan hệ thơ văn với Phan Bội Châu lúc này đang bị chính phủ thực dân Pháp quản thúc tại Bến Ngự nên anh bị sở mật thám gạch tên khỏi danh sách nhữnh thanh niên được học bỗng đi du học tại Pháp.Trong những Năm 1932 – 1933 Nguyễn Trọng Trí làm việc tại sở Đạc Diền Qui Nhơn – Anh tiếp tục làm thơ kết bạn với Quách Tấn yêu Hoàng Cúc con gái ông chủ sự sở Đạc điền nhưng không giám thổ lộ – Sau Hoàng Cúc cắt tóc đi tu ở chùa – Rồi anh quen biết Mộng Cầm là cháu gọi Bích Khê bằng cậu – Anh đi thăm Đà Lạt viết bài thơ “Đà Lạt trăng mờ” trở về Sài Gòn phụ trách tranh văn thơ báo Sài Gòn cùng với Trọng Miên Thúc tề Hồ Việt (họa sĩ) – Thơ anh được đăng trên các báo Công Luận Tân Thời Đông Dương Tạp Chí. Lúc này anh lấy bút danh là Lệ Thanh rồi sau cùng mới lấy tên HÀN MẶC TỬ – có người nói anh chọn HÀN MẠC TỬ có nghĩa là “người học trò của bức màn lạnh”.Năm 1936 anh cả của Trí là Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân mất- Trí yêu Mộng Cầm cùng Mộng Cầm đi thăm Lầu Ông Hoàng tại Phan Thiết – anh bắt đầu thấy có triệu chứng bệnh phong- Anh dọn về ở hẳn Qui Nhơn số nhà 20 đường Gia Long nay là đường Trần Hưng Đạo. Nhiều nhà thơ biết tiếng anh thường gặp nhau tại đây đàm đạo như Yến Lan Hoàng Diệp Nguyễn Viết Lãm Nguyễn Minh Vỹ Chế Lan Viên.Với sự cộng tác của Nguyễn Minh Vỹ và Hoàng Diệp anh ra tập Nắng Xuân; với Chế Lan Viên anh thành lập trường phái Thơ điên mà bản tuyên ngôn chính là bài tựa tập Điêu Tàn (của Chế Lan Viên).Cuối năm ấy anh ra Huế đề tặng tập Gái Quê cho Trần Thanh Địch – em Trần Thanh Mại – là người bạn thủy chung vẫn quan hệ thư từ với anh cho đến ngày anh mất.Năm 1937 báo Ngày nay đăng bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử. Biết chắc mình mắc bệnh phong anh tiếp tục gửi thơ đăng báo (trong khuê phòng) nhưng cắt hết quan hệ thư từ. Trong thời gian ấy Trúc Khê từ Phan Thiết và Mai Đình từ Sài Gòn có tới thăm anh.Năm 1939 Hàn Mặc Tử tập hợp những bài thơ ngoài tập Gái Quê lại thành một tập anh gọi là thơ điên (sau này được xuất bản dưới nhan đề Đau Thương – Anh viết lời tựa cho tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê và cho tập thơ Một tấm lòng của Quách Tấn.Năm 1939 – 1940 lại một tập khác nữa là Thượng Thanh Khí – để an ủi động viên anh trong thất vọng và đau khổ Trần Thanh Địch bày ra câu chuyện Thương Thương và giới thiệu với anh “là một người con gái mê thơ anh và yêu anh” – Thương Thương là cháu của Trần Thanh Địch và mới có mười tuổi – như người sắp chết đuối vớ được một mảnh ván anh lập tức bám lấy cái hình ảnh ước mơ ấy – Anh yêu “Thương Thương của anh” với tất cả sức yêu của tuổi trẻ viết cho Thương Thương những bài thơ thiết tha ngoài ra còn viết hai kịch thơ tương tự như những bài hát giao duyên trong đó có hai người là nhân vật chính giữa những nhân vật phụ là mây gió trăng hoa đó là vở “ Cẩm Châu DuyênHội Quần Tiên- Hội Quần Tiên viết chưa xong thì cha của Thương Thương là Trần Tái Phùng nói sự thật với anh và đề nghị anh chấm dứt mối tình ảo tưởng đó.Không chịu nỗi những đau đớn của bệnh tật và của tâm hồn nữa. Ngày 20 tháng 09 năm 1940 Hàn Mặc Tử vào bệnh viện Phong Quy Hòa điều trị được các nữ tu đáng kính dòng Franciscain săn sóc tận tình – Ngày 11 tháng 11 khoảng trưa (tức 11 – 13 giờ) năm ấy Hàn Mặc Tử trút hơi thở cuối cùng được chôn tại Đèo Son. Gần 20 năm sau ngày 13 tháng 01 năm 1959 được cải táng đem về Ghềnh Ráng (Quy Nhơn).Tôi không có tham vọng phân tích thơ Hàn Mặc Tử. Nhiều người đã lầm rồi tôi chỉ muốn nói lên một cảm nghĩ của riêng mình nó luôn luôn trở lại mỗi lần tôi đọc thơ Hàn Mặc Tử. Đó là sự giống nhau kỳ lạ giữa tài hoa và số phận của Hàn Mặc Tử và Vũ Trọng Phụng: Cả hai người đã cho ra đời những tác phẩm tuyệt diệu trong một khoảng thời gian vẻn vẹn có mười năm rồi mất giữa tuổi đời 28; những tác phẫm của họ lúc đầu bị hiểu sai hoặc không hiểu do thành kiến hay do trình độ của những ngòi bút phê bình đã được dần dần hiểu đúng với nội dung và giá trị chân chính của nó sau một thời gian gần bẵng nửa thế kỷ.Về tiến trình phát triển của thơ Hàn Mặc Tử có thể thấy mấy điểm đáng chú ý.1 – Hàn Mặc Tử chỉ mất có mười năm để đi trọn một chu trình mà người ta đã phải đi trên một thế kỷ. Mười bốn tuổi anh đã sáng tác được rất hoàn chỉnh những bài thơ đường luật – thể thơ bác học phức tạp bao gồm những niêm luật đối ngẫu song hành … rất chặt chẽ đã từng làm thất vọng không ít thí sinh trong các cuộc thi cử ngày xưa. Từ thơ cổ điển anh chuyển sang các thể thơ mới dưới mọi hình thù sắc thái riêng biệt của nó: lãng mạn hiện thực tượng trưng siêu thực huyền bí kinh dị … một cách hết sức dễ dàng và thoải mái như thể mọi thứ: chủ đề ý tưởng từ ngữ nhịp điệu hình ảnh cảm xúc … đều có sẵn và hoàn chỉnh trong người anh chỉ cần bấm nút là xuất hiện mọi hòa âm mọi giai điệu một cách tự nhiên tức khắc không phải mất công tìm kiếm.2 - Nhà thơ tài hoa thấm đượm tình người ấy đã trãi qua một thời gian dài bị hiểu sai hoặc không hiểu mặc dầu ai cũng thấy hay ai cũng ngợi khen – Bởi vì bên cạnh nhà thơ nhân đạo còn có người tín đồ công giáo – Và thường tình là khi người ta không hiểu thì người ta lý giải một cách tùy tiện hoặc xuyên tạc. Chẳng hạn Vũ Trọng Phụng và Lê Văn Trương hai nhà văn lớn đồng thời với Hàn Mặc Tử cũng đã bị gạt ra khỏi danh sách những nhà văn được học trong nhà trường một người vì tính hiện thực nghiệt ngã của ông khó được chấp nhận nên bị coi là “tự nhiên chủ nghĩa một người vì chỉ trong thời gian trên 10 năm cho ra đời đến 247 tiểu thuyết được xuất bản rồi ngưng viết vào Nam chữa bệnh sống những năm tháng của một cuộc đời vất vã nghèo túng. Hàn Mặc Tử cũng phải đợi gần nửa thế kỷ sau khi mất (1940) mới thấy tác phẫm của mình chính thức được đưa vào giảng dạy ở nhà trường. Có lẽ vì tập “thơ điên” (Đau thương) tập thơ này nhiều người tưởng đó là thơ một người điên thật đầy những ý phi thực tế kỳ dị huyền bí ảo mộng mà không tìm hiểu hoàn cảnh nào đã tạo nên những cảm hứng kỳ quặc huyền bí khó hiểu ấy. Đơn giản thôi: Thời kỳ này Hàn Mặc Tử đã cảm thấy những triệu chứng cụ thể của một bệnh nan y dễ sợ bệnh phong – Mắc bệnh phong tức là trước sau sẽ chết và chết một cách chậm chạp đau đớn; chết giữa tuổi xuân còn phơi phới: hai mươi lăm tuổi – tuổi yêu đương tuổi hoạt động tuổi ý thức được cái bổn phận làm người và sứ mệnh của nhà thơ. “Đau thương” hay thơ Điên “ là biểu hiện của một tâm hồn thi sĩ trong sự gặp gỡ của nó cùng một lúc với tuổi trẻ với lý tưởng nhân đạo và với đức tin công giáo đối diện với cái chết đang đến gần”Chàng trai trẻ thì cố hết sức bám lấy cuộc sống và thơ.

“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút     
Mỗi lời thơ đều dính não cân
ta  
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt    
Như mê man chết điếng cả làn da”       
                                       (Rướm máu)

Cái chết tới gần anh cảm thấy bản thể của mình hòa tan vào hư vô; anh tìm kiếm một chỗ dựa một nơi ẩn mình trong vũ trụ bao la lót lá cây làm chiếu rồi nằm lên đó cùng với người yêu giữa lòng thiên nhiên đầu gối lên một áng sao băng rồi cùng sao bay đi đến chạy trốn cái chết. Trong bài “ Trường Tương Tư” anh miêu tả tâm trạng của mình như sau:

“ Em có nghĩ ra một buổi chiều vàng úa          
 Lá trên cành héo hắt gió ngừng ru     
 Một khối tình nức nở giữa âm u
Một hồn đau rã dần theo hương khói
Một bài thơ cháy tan trong trong nắng rọi
Một lời run hoi hóp giữa không trung
Cả niềm yêu ý nhớ một vùng
Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn”
Đây là tất cả người anh tiêu tán
Cùng sao trăng bàng bạc xứ say mơ
Cùng tình em tha thiết như vần thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.

Nhà nhân đạo chủ nghĩa
thì để lòng mình thông cảm sâu sắc với những cô gái giang hồ đang đau đớn với những số phận bất hạnh mà anh muốn cùng chia sẽ nổi đau hay ít nhất mang lại đôi lời an ủi: 

“Em đang than khóc người trong mộng
Một trộ mưa hoa trút cánh tà
Em kéo chăn ra ngồi lại nhặt
Phút giây hoa biến: lộ bài thơ
Khêu cao ngọn nến rồi em cố
Thu hết sức tàn chuốc giọng ngâm
Đáp lại lòng ai thương hại khách
Giang hồ điêu đứng trong bao năm” 
                                              (Em đau)
 

Người tín đồ thiên chúa giáo chấp nhận cái đau thương và cái chết như biểu hiện ý muốn của Chúa cúi đầu làm theo Thánh ý một cách tự nguyện và với niềm tin thì sẽ được cứu rỗi. Đức tin mỡ rộng của thiên đường cho anh nhìn thấy hạnh phúc vĩnh hằng trong sự bình yên và hoà hợp. Nó giúp anh dứt bỏ được những cám dỗ của cuộc sống thế gian và chết thanh thản trong ơn Chúa. Đây là những điều mà một độc giả bình thường không theo đạo Thiên Chúa thì không hiểu được. Vì vậy mà họ thấy trong “Đau thương” những câu những đoạn nhiều bài tối nghĩa đầy những ý lạ lùng kỳ dị và huyền bí. Đúng như nhãn đề tập thơ nói lên. Ở đây ta thấy một trí tưởng tượng mãnh liệt của một nhà thơ trẻ đầy tài hoa một tâm hồn man mác tình người và thấm đậm đức tin công giáo kết hợp với một sự hiểu biết sâu sắc về kinh thánh tất cả tạo nên cho anh một một nguồn cảm hứng dạt dào có tính chất siêu hình mà không phải ai cũng nhận thức được. Cho nên không ngạc nhiên nếu trong tập thơ điên này ta thấy Hàn Mặc Tử dườnh như sống cuộc sống giữa trăng sao mây gió trên tầng thượng thanh khí hơn là sống cuộc sống trần gian. Anh bị bệnh anh đau mà vẫn say trăng:

“Ta khạc hồn ta ra ngoài cửa miệng
Cho bay lên hí hửng với ngàn khơi
Ở trên kia có một người
Ngồi bến sông Ngân giặt lụa chơi
Nước hóa thành trăng trăng ra nước
Lụa là ước đẫm cả trăng thơm…
Say! Say lảo đảo cả trời thơ
Gió rít tầng cao trăng ngã giữa
Và tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sóng dậy điên cuồng mửa máu ra”
 (Say trăng)“ Hồn ta rú trong đêm sâu ảo não
Tiếng lung lay xao xuyến cả ngàn sao
Và bóng trăng trong âm thanh lảo đảo
Rã dần như hương khói giấc chiêm bao”
                                                 (Vớt hồn)
 

Nếu có dịp đọc cuốn “Cựu Ước” (thánh kinh công giáo) ta sẽ thấy những bài thơ nói rất thành thạo về trăng sao vũ trụ ấy có nhiều âm hưởng của nó – Sánh” Sáng thế” (I 1-19) có ghi: “ Thượng đế nói: Phải có những ngọn đèn giữa vùng trời để phân biệt ngày đêm để làm dấu hiệu phân chia thời kỳ năm tháng để làm ngọn đèn giữa không trung soi sáng địa cầu. Và sự việc đã xảy ra như thượng đế muốn. Người làm ra hai ngọn đèn lớn cái lớn nhất để điều khiển ban ngày cái nhỏ để điều khiển ban đêm. Người cũng tạo ra những tinh tú…”Sách Phát Trình Ký (Exode)
cuốn sách kể lại chuyện Moise lãnh đạo người Hébreuy tức Do Thái (Israel) đi ra khỏi Ai Cập để thoát khỏi ách nô lệ và đi tìm đất hứa – Có viết rằng thượng đế luôn luôn có mặt để bảo vệ che chở cho họ. Qua bàn tay chỉ đạo của Moise người rẽ sóng Hồng Hải ra hai bên thành hai bức thành cao cho con dân Israel của mình đi bộ khô ráo qua biển; Quân Ai Cập đuổi theo khi người Israil đã đến bờ rồi Quân Ai Cập vừa lọt vào giữa biển thì Moise chỉ tay khiến hai bên sóng khép lại Quân Ai Cập bị chết đuối hết(Phát trình ký 13 14).Trong cuốn sách Josué (3 16) thượng đế cho đầy tớ người (Josué) làm phép lạ cho quân lính vượt qua sông Jourdain mà không ước chân đạp đổ thành Ghélico bằng tiếng kèn đồng (26 20) và chỉ tay bắt mặt trời đứng lại.(): Khi đó Josué thưa với Đấng Vĩnh hằng cái ngày mà Đấng Vĩnh hằng quyết định quân Amoréens phải rơi vào tay quân Israel:“Hỡi mặt trời hãy ngừng lại trên núi Gabaon! Và mặt trăng hãy dừng lại trên thung lũng Ajalon! Và mặt trời đã ngừng đi và mặt trăng ngừng chuyển động cho đến khi dân tộc tiêu diệt được quân thù trả hận”Chắc chắn là Hàn Mặc Tử có đọc nhiều đoạn thánh kinh và thánh kinh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thơ anh đã cung cấp cho anh những ý thơ những hình ảnh thơ thật đẹp – Chỉ khác là các nhân vật thánh kinh như Moise Fosúc dùng phép lạ để chiến đấu bảo vệ con dân Israel còn Hàn Mặc Tử thì tưởng tượng phép lạ để nâng ước mơ nguyện vọng tình yêu lên tầm siêu nhiên vô tận vĩnh hằng:

“Thế ra ta vốn là thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay
Ta đi bắt nắng ngừng nắng reo nắng cháy
Trên sóng cành – sóng áo cô gì má đỏ hây hây
Ta rình nghe niềm ý bâng khuâng trong gió lảng
Với làn hơi thở nồng nàn của tuổi thơ ngây
Gió nâng khúc hát lên cao vút
Vần thơ uốn éo lách rừng mây
Mây trôi lơ lửng trên dòng nước
Đôi tay vốc uống quên lạnh lùng
Ngã nghiên đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy mình lốm đốm những hào quang”
                                   (Ngủ với trăng)

Ave Maria
là một trong những bài thơ hay nhất và cũng bị hiểu sai nhiều nhất bởi nó thấm nhuần một chất huyền bí gia tô giáo nâng lên đến mức độ xuất thần. Theo một người bạn rất thân của Hàn Mặc Tử thì anh đã viết bài thơ này sau khi đã nằm chiêm bao thấy Lê Sơn thánh nữ (người ta thờ Lê Sơn thánh nữ như thờ bà Liễu Hạnh) và bài thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử là nhằm ca ngợi bà thánh nữ Lê Sơn đó. Tôi nhớ có người dịch truyện ngắn Pirandello (Ý) cũng đã nhầm chữ “Ave Maria” là tên người (Ève – Marie) (!) và đã dịch xuyên tạc cả truyện ngắn của Pirandello theo hướng vô nghĩa đó. Mới biết đối với một người cầm bút sự thiếu sót kiến thức có thể dẫn người ta đến những điều kỳ quặc như thế nào.Ave Maria “Kính mừng Maria” cùng với kinh PaterLạy cha” là hai bài cầu kinh hằng ngày của tín đồ Thiên chúa giáo. Hàn Mặc Tử trong bài thơ của mình đã phát triển lý giải huyền diệu hóa thi vị hóa lời cầu kinh trong những khoảnh khắc linh hồn anh ngập tràng ơn Chúa được hưởng trạng thái bình yên và hòa hợp hoàn toàn.

“Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng khắp ba ngàn thế giới
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi khong khen.
Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời?

Bài Ave Maria là một kiệt tác thơ ca công giáo cũng như bài “Ở đây thôn Vĩ Dạ” là một đỉnh cao của những án thơ tình. Sau cùng cũng nên nói đôi dòng về nghệ thuật Hàn Mặc Tử. Thơ Hàn Mặc Tử có nhiều cái hay. Tuy nhiên hai điểm đáng chú ý hơn cả là về cả thơ cũ lẫn thơ mới anh điều đạt tới mức cao của nghệ thuật. Thơ đường luật của anh đọc lên nghe như thơ của Nguyễn Khuyến Tú Xương rất thấm thía rất “xưa”:

“ … Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn
Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn”
 (Đêm không ng
)

Về thơ mới Hàn Mặc Tử không phải là một người đi theo phong trào mà là một người đi trước chứ động và sáng tạo. Anh không dừng ở câu thơ tám chữ ngắt hơi ở chữ thứ ba. Vẫn liền hay vần ôm vẫn xen kẻ hầu như đã trở thành cổ điển trong thơ mới như kiểu thơ Lamartine
Baudelaire hay Viguy. Anh đã làm thơ văn xuôi kiểu Paul Valéry Paul Claudel Lamennais. Thơ tự do anh sử dụng đủ mọi hình thức đa dạng và phong phú; có những bài nhiều câu dài ngắn xen nhau tùy theo thi hứng và bổng trầm khoan nhặt tùy theo nhịp điệu âm thanh của từng ý từng lời như bài “Trăng tự tư”. Bên cạnh những bài hoàn chỉnh theo từng thể loại anh có những bài dài 40 câu ngũ ngôn độc một vần i. na ná như một điệu Nam Bình (Lòng quê Tình quê) đầy nhớ thương lưu luyến – Ngoài ra anh còn viết những vỡ kịch trữ tình ngắn trong đó nhân vật chính là “Cẩm Châu duyên” hai người yêu nhân vật phụ là mây gió trăng hoa… và “Quần tiên hội” (viết nữa chừng thì bỏ không hoàn thành). Cuối cùng là những bài thơ văn xuôi viết bằng tiếng Pháp rất chỉnh tặng các bà Xơ dòng Franciscains đã săn sóc anh tại nhà thương Quý Hòa trước khi anh mất …Để bù đắp cho một thi sĩ tài hoa và mệnh yểu các tác phẫm của Hàn Mặc Tư 40 năm sau khi nhà thơ mất đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường tư bậc  trung học đến bậc đại học bên cạnh những nhà thơ ưu tú của Việt Nam và thế giới. TP. Hồ Chí Minh tháng 01 năm 2004.
                             

                     L’ITINÉRAIRE POÉTIQUE DE HÀN MẠC TỬ    
   
         HAN MẠC TỬ de son vrai nom  Pierre-François Nguyễn Trọng Trí  est l’un des poètes les plus connus et les  plus admirés de l’époque contempotaine. Il est né à Lệ Mỷ Đòng Hới Quảng Bình le 22 septembre 1912. Son arrière grand-père Phạm Nhượng originaire de Thanh Hóa était poursuivi pour affaire d’État. Son fils Phạm Bôi (grand-père de Hàn Mặc Tử)  a du s’enfuir à Thanh Tân Ô Ồ une région de la province de Thừa Thiên (Centre-Vietnam) et changer de nom en prenant le nom de famille de sa mère Nguyen. Plus tard Nguyễn Trọng Trí prendra le pseudonyme de Lệ Thanh (Lệ Mỹ- Thanh Hóa) pour se souvenir de son origine. Son père Nguyễn Văn Toản   fils de Phạm Bôi était receveur des douanes de Nhật Lệ; sa mère Nguyễn Thị Duy était la fille d’un médecin du Roi du temps de Tự Đức.      Pendant son enfance Nguyễn Trọng Tri avait suivi sa famille successivement à Sa Kỳ (1921) puis Quy Nhơn Bồng Sơn et de nouveau Sa Kỳ. Après la mort de son père en 1926 il suivait sa mère à Quy Nhơn alla à Huế faire de brillantes études secondaires à l’école Pellerin rentra de nouveau à Quy Nhơn participa à un concours de poésie organisé par un Cercle littéraire et obtint le premier prix.      Ce poète précoce qui à peine quatorze ans savait déjà faire des poèmes đường luật – forme académique de la poésie classique est vite devenu  célèbre par ses poèmes publiés dans les journaux Phụ nữ tân văn (Lettres nouvelles de la Femme). Il s’est fait remarquer et estimer par le grand Révolutionnaire Phan Bội Châu.. À cause de ses relations avec ce dernier alors en résidence surveillée à Bến Ngự Huế le Service de la Sureté de Huế raya son nom de la liste des candidats  à une bourse d’étude en France.        Pendant les années 1932-1933 Nguyễn Trọng Trí travaillait au Service du Cadastre à Quy Nhơn continuait à écrire des poèmes se liait d’amitié avec Quách Tấn aima Hoàng Cúc –qui s’est faite religieuse bouddhique quelque temps après. Il fit alors fit connaissance de Mộng Cầm. De retour d’un voyage à Dalat où il avait écrit le poème Đà Lạt trăng mơ  (Lune voilée de Dalat) il s’établit à Saigon . Il fut chargé de la rubrique littéraire du Journal Saigon qui avait pour cillaborateurs  Trọng Miên Thúc Tề Hồ Việt (peintre) Ses poèmes furent publiés dans Công Luận (L’Opinion publique) Tân Thời (La Nouvelle Époque) et Đông Dương tạp chí (Revue indochinoise). Ce fut alors qu’il prit le nom de Lệ Thanh puis de HÀN MẶC TỬ. (Le Disciple du Pinceau et de l’Encre) - d’autres disent Hàn Mạc Tử (Le Lettré du Rideau froid).       En 1936 Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân son grand frère mourut. Hàn Mặc Tử  alla avec Mộng Cầm qu’il aima visiter le Château du Prince à Phan Thiết. C’est alors qu’il commença à sentir les premiers indices de la lèpre. Il s’établit définitivemebt à Quy Nhơn numéro 20 Rue Gia Long ( plus tard rue Khải Định puis rue  Trần Hưng Đạo. C’est là que sa célébrité fit rassembler autour de lui plusieurs poètes connus: Yến Lan Hoàng Diệp Nguyễn Viết Lãm Nguyễn Minh Vỹ Chế Lan Viên…      Avec la  collaboration de Nguyễn Minh Vỹ et Hoàng Diệp il publia le recueil Nắng Xuân (La Chaleur du Printemps). Avec Chế Lan Viên il fonda l’école de la Poésie du Délire dont la Préface du recueil Điêu Tàn (Ruines) de Chế Lan Viên tenait  lieu de manifeste.  Vers la fin de l’année il alla à Hué dédia son recueil Gái Quê (Fille de la  campagne)  à son ami Trần Thanh Địch qui entretenait 
NGHIN CỨU - THẢO LUẬN Gĩp ý (0) Đường dẫn cố định   

More...

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NICOLAS WARNERY - TỔNG LÃNH SỰ PHÁP TẠI TP HỒ CHÍ MINH VỀ VỞ KỊCH BÍ MẬT VƯỜN LỆ CHI

By

                                                         

PREÙFACE          
pour l’eùditiom bilimgue de
 LE SECRET DU JARDIN DES LETCHIS       

LE
SECRET DU JARDIN DES LETCHIS est un drame dans lequel s’entremeâlent quelques-uns des theømes eùternels de la litteùrature universelle; la comjuration le secret de famille l’erreur judiciaire le mysteøre historique. Monsieur Hoaøng Höõu Ñaûn tresse ici les fils du mensonge de la trahison du sang et de la mort. Dans les grandes traditions de la trageùdie grecque celle de Myceønes ou des Atrides qu’il connait si bien mais aussi au coeur de la culture vietnamienne classique l’auteur fait apparaitre la veùriteù enfouie sous des sìecles d’erreur et de dissimulation en cachant aø  son tour supreâme habili1eteù une enqueâte historique d’une grande rigueur dans le mouvement de la vie qui est le propre du theùaâtre dont il nous donne une magistrale leçon de technique.      Avant le baisser du rideau les dernìers mots qui reùsonnent et qui reùsument notre destin sur terre. sont ceux de regret de reconnaissance de douleur et d’amour.                                                                                                             
   
Nicolas WARNERY 
                     
Consul geùneùral de France aø Hochiminhville 
                               


  
LÔØI TÖÏA
                                                  
cho vôû kòch BÍ MAÄT VÖÔØN LEÄ CHI 
                               
xuaát baûn baèng song  ngöõ
              
  

BÍ MAÄT VÖÔØN LEÄ CHI laø moät vôû kòch trong ñoù ñan chaët vaøo nhau moät soá trong nhöõng chuû ñeà muoân thuôû cuûa vaên hoïc nhaân loïai: nhöõng aâm möu nhöõng bí maät gia ñình doøng hoï  nhöõng vuï aùn xöû oan nhöõng bí aån lòch söû.
   OÂng HOØANG HÖÕU ÑAÛN ñaõ deät neân vôû kòch baèng nhöõng moái daây cuûa söï doái traù cuûa söï phaûn boäi baèng maùu vaø söï cheát choùc.  Töø trong heä thoáng nhöõng truyeàn thuyeát lôùn vaø laâu ñôøi cuûa bi kòch Hy Laïp nhö truyeàn thuyeát thaønh Myceønes hay truyeàn thuyeát doøng hoï Atrides maø oâng hieåu bieát raát töôøng taän vaø cuõng töø trong chieàu saâu cuaû chính neàn vaên hoùa coå ñieån Vieät Nam taùc giaû ñ4 laøm saùng toø  söï thaät bò vuøi laáp döôùi nhöõng thaùng ngaøy sai laàm vaø che giaáu cuûa bao nhieâu theá ky baèng caùch tieán haønh heát söùc  kheùo leùo moät tieán trình ñieàu tra lòch söû thaän troïng chính xaùc vaø quyeát lieät trong söï vaän ñoäng cuûa cuoäc soáng -  muïc tieâu vaø chöùc naêng  cô baûn cuûa saân khaáu.        Nhö vaäy oâng ñaõ neâu cho chuùng ta moät baøi hoïcsaùng ngôøu veà kyõ naêng saùng taùc.   Tröôùc khi maøn haï nhöõng tieáng noùi cuoái cuøng vang leân vaø toùm taét soá phaän chuùng ta treân traùi ñaáùt laø nhöõng tieáng noùi cuûa suï tieác haän cuûa loøng bieát ôn cuûa söï ñau xoùt vaø cuûa yeâu  thöông.                                                                                                                         
                                                
Nicolas Warnery
                   
  
Toång Laõnh söï Phaùp taïi Thaønh phoá Hoà Chí Minh.
  

More...

AVANT PROPOS - một nửa thế kỷ tìm tòi và phát hiện

By

           

                            AVANT-PROPOS                                                
Prof. adjoint Phan Vaên Caùc
Ancien Directeur de l’Institut Haùn-Noâm                   Preùsident du Conseil Scientifique de l’Institut Haùn-Noâm  

 
Le tragique proceøs du Jardin des Letchis condamnant aø mort La Leã nghi hoïc só (Lettreùe chargeùe de l’eùducation de toutes les femmes et filles  du harem royal) NGUYEÃN THI LOÄ et tous les membres des trois familles du grand Heùros national NGUYEÃN TRAÕI a obscurci le ciel et la terre de Ñaïi Vieät d’alors et transperceù de douleur le coeur de tous ceux qui s’inteùressent aø l’histoire nationale depuis 56o longues anneùes. En 1464 Nguyeãn Traõi a eùteù officiellement reùhabiliteù par l’Empereur Leâ Thaùnh Toân qui chantait ses meùrites :” ÖÙc Trai a le coeur plus clairque l’EÙtoile du Matin”. La reùhabilitation n’eùtait pas totale ni totalement juste parceque tout en deùclarant qu’il n’eùtait pas coupable de l’attentat du Roi   il n’a pourtant pas preùciseù le nom du veùritable auteur.  et ne lui a rendu que des honneurs posthumes infeùrieurs aø caux qui lui avaient eùteù deùcerneùs de son vivant. Depuis la deuxieøme moitieù du XIXeø sieøcle les scientifiques ont entrepris  de nombreuses  recherches sur la vie et l’oeuvre de Nguyeãn Traõi et par laø  confirmeù son immense contribution  aø la lutte pour l’indeùpendance de la nation sa grande penseùe d’humaniteù et de justice sa personnaliteù eùminemment noble ainsi que la valeur de ses  ouvrages  non seulement dans le domaine de la poeùsie de la litteùrature mais aussi de l’histoire et de la geùographie. L’EÙtat et le peuple vietnamiens l’ont proclameù Heùros National et  Grand Personnage culturel..  En 1980 l’UNESCO l’a reconnu comme une Ceùleùbriteù culturelle mondiale. Le Proceøs du Jardin des Letchis fut critiqueù.. Mais pour la Leã nghi hoïc só Nguyeãn Thò Loä il parait qu’elle n’a pas eùteù  reùhabiliteùe de façon deùfinitive  et n’a pas reçu les honneurs meùriteùs.. En reùponse aø l’attente geùneùrale et aø la demande urgente de nombreuses personnes une Confeùrence scientifique au sujet de la Leã nghi hoïc só Nguyeãn Thò Loä a eùteù organiseùe aø Hanoi le 19 deùcembre 2002 aøø l’occasion du 560eø anniversaire de la mort de Nguyeãn Traõi par les soins des dirigeants du village Traàn Phuù arrondissement de Thanh Trì Hanoi  (ouø se trouve actuellement le temple de Nguyeãn Thò Loä) avec la participation de l’Association des Sciences historiques du Vietnam et sous la preùsidence  de son Secreùtaire geùneùral deùputeù aø l’Assembleùe nationale Döông Trung Quoác et du Professeur Heùros du Travail intellectuel Vuõ Khieâu.La  Confeùrence a donneù de treøs beaux reùsultats . graâce aux activiteùs inlassables de M.Hoaøng Ñaïo Chuùc enseignant en retraite et du Dr Ñinh Coâng Vó et d’autres. Le professeur Phan Huy Leâ quoique deùbordeù de travail a suivi de preøs la Confeùrence il nous a envoyeù son intervention eùcrite dans laquelle il insiste sur les talents de Nguyeãn Thò Loä et sur les injustices qu’elle avait subies. Il a en compagnie du Geùneùral Professeur eùmeùrite  Hoaøng Minh Thaûo dirigeù un groupe de scientifiques docteurs experts  en Haùn Noâm chercheurs eùcrivains en voyage d’eùtudes et de recherches au village natal de Nguyeãn Thò Loä  La Confeùrence a rassembleù un grand nombre de participants: scientifiques eùcrivains promoteurs de l’action sociale et a recueilli des reùsultats satisfaisants.Sous des angles de vue diffeùrents   les interventions se  concentrent  principalement sur la vie de Nguyeãn Thò Loädans ses rapports avec sa terre natale avec sa famille avec l’histoire avec son eùpoque; elles analysent les divers aspect de ses   talent admirables se sa personnaliteù noble et eùleveùe ainsi que sa preùcieuuse contribution dans le domaine culturel et social.Le professeur Vuõ Khieâu affirme : “ Nguyeãn Thò Loä est pour le moins une femme de lettres de talent   clairvoyante et active en polituique impeccable dans sa conduite en socieùteù et strictement fideøle dans ses sentiments.” .… “Elle a consacreù toute sa vie pour travailler aø la consolidation de la dynastie des Leâ et aø la prospeùriteù du Ñaïi Vieät.” . . . “la compagne de vie infiniment fideøle du grand Heùros national et Ceùleùbriteù culturelle mondiale ÖÙc Trai Nguyeãn Traõi”.Les experts en Haùn –Noâm ont deùcouvert et fourni aø la Confeùrence de nombreux et preùcieux textes tireùs des registres geùneùalogiques des grandes familles ayant  rapport aø sa viet et aux poeømes qu’elle avait composeùs aø travers les joutes poeùtiques (xöôùng hoïa) entre elle et son mari. Dans d’autres interventions les auteurs ont chercheù 2 deùchireù- et ils l’ont deùchireù- le rideau de mensonge entourant le tragique Proceøs du Jardin des Letchis en vue d’”acquitter Nguyeãn Thò Loä” en affirmant que la principale personne qui avait profiteù de la mort de Leâ Thaùi Toân pour incriminer Nguyeãn Traõi et Nguyeãn Thò Loä eùtait la Reine-Meøre Tuyeân tTöø Nguyeãn Thò Anh meøre de Bang Cô avec la compliciteù des eunuques pervers. La cause principale qui avait ameneù Nguyeãn Thò Anh aø cette  sanglante machination eùtait de cacher la naissance aduteùrine de Bang Ciô qu’elle avait conçu trois mois avant de devenir la femme de Leâ Thaùi Toân. Laø aussi est le point de vue et l’argumentation de l’eùcrivain Hoaøng Höõu Ñaûn quand il eùcrivit en 1962 sa trageùdie historique LE SECRET DU JARDIN DES LETCHIS. Il nous a envoyeù  avec un article “Reùflexions aø partir du Secret du Jardin des Letchis” la pieøce elle-meeâme comme texte authentique de son interventio aø la Confeùrence.. L’argumentation de M.Hoaøng Höõu Ñaûn et la conclusion qui en deùrive se sont aveùreùes logiques convaicantes et tout aø fait acceptables au point de vue litteùraire dramatique aussi bien qu’au point de vue des recherches historiques dans la premieøre eùtape. Mais il n’est pas dit que tout ce qui est logique est neùcessairement vrai ; c’est pourquoi pour en arriver aø une conclusion scientifique deùfinitive il nous faut aller jusqu’au bout de la science. Toutefois comme l’a remarqueù le Professeur Phan Huy Leâ nous avons deùjaø des bases scientifiques suffisantes pour affirmer que la mort douloureusement tragique de Nguyeãn Traõi-Nguyeãn Thò Loä est la conseùquence  d’une machination politique meneùe par une force dissidente de La Cour en vue d’exterminer un geùnie hors-commun trop eùminent une personnaliteù trop noble et trop parfaite qui faisait obstacle aø leurs obscures machinations. En particulier en ce qui concerne NGUYEÃN THÒ LOÄ tous les participants de la Confeùrence sont unanimes aø l’honorer comme “une femme de lettres et de poeùsie pleine de talent la premieøre femme enseignante de tout le pays  dont la conduite exemplaire et le renom sans tache nous soien t parvenus  jusqu’aø preùsent la femme fideøle et parfaite en tout de l’illustre Heùros National et Ceùleùbriteù culturelle mondiale NGUYEÃN TRAÕI Plus encore c’est elle et son mariqui ont sauveù la vie aø laq trieäp dö Noâ Thò Ngoïc Dao et aø son fils Leâ Tuï Thaønh c’est aø dire qu’ils ont conserveù pour la Patrie un Roi clairvoyant et sage supreâme repreùsentant de la culture Ñaïi Vieät l’Empereur Leâ Thaùnh Toân..En dehors des interventions on trouvera aussi  dans le preùsent Recueil  Succinct des “sentiments et  reùflexions de divers auteurs sur la beauteù les talents les actions patriotiques ainsi que sur l’injuste condamnation  qui peøse sur elle depuis 560 ans sans qu’elle en soit une fois seulement  officiellement libeùreùe. Qu’il s’agisse d’interventions scientifiques de creùations dramatiques poeùtiques   ou litteùraires toutes sont l’expression sinceøre unanime des sentiments intimes de tous les participants de la Confeùrence; c’est aussi le teùmoignage de la douleur partageùe respectueuse et reconnaissante de toute la Nation envers elle. Nous sommes aussi unanimes aø proposer aux Dirigeants de l’EÙtat aux dirigeants de la Capitale  d’utiliser des moyens et formes convenables pour la reùhabiliter officiellement mettre aø la lumieøre sa personnaliteù et ses oeuvres et par laø exprimer aø sa meùmoire les sentiments  de respect d’amour et de reconnaissance de toute notre nation. Dans cet esprit de  confiance et de solidariteù et avec mes chaleureuses feùlicitations  pour les succeøs satisfaisants de la Confeùrence j’ai l’honneur de preùsenter  aø nos cherss lecteurs   ce Rcueil Succinct et au Comiteù d’organisation de la Confeùrence mes sinceøres remerciements pour m’avoir reùserveù cet insigne honneur.                                        Novembre 2003P.V.C. PREÙSENTATION  CONFEÙRENCE SCIENTIFIQUE SUR LLEÃ NGHI HOÏC SÓ NGUYEÃN THÒ LOÄaø l’occasion du 560eø anniversaire de la mort de NGUYEÃN TRAÕI ceùleùbriteù culturelle mondiale HOAØNG ÑAÏO CHUÙ enseignant Voila 560 automnes passeùs depuis   la tragique journeùe du 16 du 8eø mois de l’anneùe lunaire Nhaâm Tuaát 1442 .   560 fois les feuilles d’automne sont tombeùes nous rappelant les malheurs et les injustices qu’avaient subies le Grand Heùros national NGUYEÃN TRAÕI et sa femme NGUYEÃN THÒ Loä la satellite la plus belle aupreøs l’EÙtoile du Matin. ·        Le coeur de Nguyeãn Traõi est plus clair que l’EÙtoile du Matin” (1). Heùlas! pendant que nous nous rassemblons ici  pour remeùmorer le tragique Proceøs du Jardin des Letchis et Nguyeãn Thò Loä la poeùtesse de talent Ngaân Giang nous a quitteùs pour retourner aupreøs de sa ceùleøbre devancieøre.. Comment pouvons-nous  ne pas nous souvenir la douleur  dans l’aâme des vers  qu’elle lui avait deùdieùs :“La lettreùe au palais d’or eùtait dans la pleùnitude de sa beauteù et de ses talentsL’ancien Jardin des Letchis eùtait battu par la pluie et la tempeâteLa litieøre royale s’est arreâteùe une fois  et la douleur dure des sieøclesMais l’histoire nationale fait la sourde oreille  aø travers le temps.”

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

(1) ÖÙc Trai taâm thöôïng quang Khueâ Taûo” =Quyønh uyeån cöu ca Leâ Thaùnh Toân.

C’est aø cause de ces  mille automnes de douleur et de ce silence prolongeù de l’Histoir nationale que nous avons de nombreuses anneùes de reùflexion et de recherche. Nguyeãn Traõi lui a eùteù au moins suffisamment reùhabiliteù – nous ne disons pas par Leâ Thaùnh Toân car ce qu’il avait fait pour Nguyeãn Trai n’eùtait que la moitieù de ce qu’il aurait du faire: dans son eùdit les honneurs qu’il deùcernait aø titre posthume au grand deùfunt eùtait de niveau infeùrieur aux honneurs qu’il avait eus de son vivant. Bien plus Leâ Thaùnh Toân n’a pas preùciseù le nom du vrai coupable de l’attentat du Roi.qui n’eùtait autre que sa vieille meøre “meøre du peuple” Nguyeãn Thò Anh et les grands dignitaires de La Cour ennemis des intellectuels patriotiques d vertus et de talents. Cette omission signifie que Leâ Thaùnh Toân voulait deùfendre avant tout l’honneur de sa famille royale. S’il avait mis aø la lumieøre – il eùtait au courant de tout- les actes criminels de Nguyeãn Thò Anh il l’aurait du faire de meâme aø l’eùgard de Leâ Thaùi Toân de Leâ Nhaân Toâng; et s’il allait plus loin il finirait par deùcouvrir des faits et actes se rapportant aø Leâ Lôïi lui-meâme et qui eùtaient loins d’eâtres irreùprochables. C’est pourquoi quoi qu’il devait aø Nguyeãn Traõi et aø Nguyeãn Thò Loä le salut de sa meøre et son propre salut il n’avait pu agir autrement son premier souci eùtant de deùfendre son troâne deùfendre l’honneur de la dynastie des Leâ. Or de!endre la dynastie des Leâ c’est deùfendre sa propre personne. Voila un probleøme don’t les deùtenants du pouvoir de partout esquivent toujours la reùponse non pas dans la seule Cour des Leâ mais dans bien d’autres. D’ordinaire ils ne veulent pas reconnaitre leurs erreurs mais cherchent par tous les moyens de faire tomber la faute sur les circonstances et la responsabiliteù sur les infeùrieurs sur la collectiviteù. On comprend  pourquoi l’Histoire Nationale avait gardeù le silence sur le proceøs et causeù ainsi tant de tort et de deùsavantage aø Nguyeãn Thò Loä.Toutefois malgreù la jalousie des Cours royales aø l’eùgard des hommes de talents   la  Sao Khueâ Nguyeän Traõi est par sa propre clarteù deùjaø rop  brillante  pour pouvoir eâtre voileùe par quoi que ce soit sous le firmament. Il a enjambeù le temps deùpasseù les eùpoques pour  devenir en 1980   Ceùleùbriteù culturelle mondiale l’unique et digne repreùsentant du Vietnam du Moyen-aâge aø l’eùpoque contemporaine. alors que Nguyeãn Thò Loä est resteùe inconnue “oublieùe” comme le dit Ngaân Giang. C’est pour cette raison que vers la fin de l’anneùe 2001   je me suis deùcide aø aller visiter le village Khuyeán Löông ; ensuite  en collaboration avec le Dr Ñinh Coâng Vuó je me suis mis aø la recherche des vestiges et documents ayant rapport aø Nguyeãn Thò Loä. Nous retournions plusieurs fois aø Khuyeán Löông avec quelques autres amis inteùresseùs aø la question. Apreøs discussion nous eùchangions d’ideùes avec  M.Döông Trung Quoác secreùtaire geùneùral de l’Association des Historiens du Vietnam et deùputeù aø l’Assembleùe Natuionale. Nous avons fait le projet d’organiser  aø Khuyeán Löông une Confeùrence au sujet de Nguyeãn Thò Loä. Le projet deùposeù aø l’Association des Historiens au deùbut de 2002 nous eùcrivons alors  deux articles sur les temples et pagodons deùdieùs au culte de Nguyeãn Traõi et de Nguyeãn Thò Loä. Les deux articles ont eùteù publieùs dans les journaux Xöa va Nay (Jadis et Aujourd’hui) et Ngöôøi cao tuoå (Les personnes aâgeùes). Vers le milieu de 2002 j’ai lanceù un appel aø nos compatriotes de l’inteùrieur comme aø l’eùtranger aø participer de loin ou de preøs aø la Confeùrence par des interventions eùcrites ou par des aides financieøres. Se sont les premiers coups de cloche annonçant  l’ouverture de la Confeùrence auxquels de nombreuses personnes de coeur ont aussitoât reùpondu.L’eùcivain Nhö Hieân Nguyeãn Ngoïc Hieàn et son mari le Prof.Nguyeãn Duy Nhöôõng ous ont geùneùreusement et plusieurs fois envoyeù des lettres des messages teùleùohoniques et aussi de l’argent soit aø partir de Hochiminhville soit aø partir de l’eùtranger sans faire cas des frais d’envoi qui sont assez eùleveùs. En avril-mai le Dr Mai Hoàng m’accompagnaait plusieurs fois aø Khuyeán Löông  pour contacter les diruigeants du village et parler de la restauration des temples de Nguyeãn Traõi et Nguyeãn Thò Loä et de l’organisation de la Confeùrence. De nombreux professeurs docteurs architectesm scientifiques…ont activement collaboreù avec nouss pou eùcrire des interventions des articles de journaux.  Le  Prof.Vuõ Khieâu heùros du Travail a affirmeù avec persuasion :”Ici ce n’est pas le travail des seuls scientifiques mais un travail du niveau national Les dirigeants de l’Assembleùe nationale du Gouvernement ainsi que le Comiteù populaire et les Chefs de service de la municipaliteù de Hanoi ont le devoir de prendre l’affaire en main de nous aider c’est leur responsabiliteù personnelle.La confeùrence  ptreùsente n’est que l’ouverture d’une autre Confeùrence au niveau supeùrieur qui devra avoir lieu l’anneùe prochaine. Elle doit aborder  les questions de base concernant les sources les origines: les villages les hameaux les reùgions paysannes intimement lieùes aø l’existence aø la vie de Nguyeãn Thò Loä. Nguyeãn Thò Loä est neùe au hameau Haûi Trieàu village Taaân Leã circonscription Höng Haø dans la province de Thaùi Bình. Nous avons eu l’honneur d’accueillir la premieøre en tribune l’intervention du Comiteù Populaire de Taân Leã : “NGUYEÃN THÒ LOÄ personnage illustre neùe en notre terre natale le village Taân Leã circonscrioption Höng Haø province de Thaùi Bình.”Portant sur le meâme sujet viennent ensite les interventions suivantes :-Les deux marchandes de natte de  Laøng Hôùi-Haûi Hoà  de  Phaïm Ñöùc Duaät;-La Leã nghi hoïc só Nguyeãn Thò Loä et sa famille de la reùgion de Taân Leã aø d’autres reùgions de la Patrie” du Dr Ñinh Coâng Vó;-Taân Leã une reùgion chargeùe de vestiges historiques  et de  beaux paysages en rapport harmonieux avec son environnement” de Nguyeãn Vaên Tung;-“Taân Leã” promet un avenir touristique florissant”. de Hoaøi Yeân poeøte president du Cercle  “Poeùsie ñöôøng luaät” de Haø Taây .Sur les reùgions ayant quelque rapport avec la vie de Nguyeãn Thò Loä nous pouvons citer  le hameau Khuyeán Löông (village Traàn Phuù arrondissement Thanh Trì banlieues de Hanoi.Nous citons avec eùmotion l’intervention du Prof-adjoint Chu Quang Tröù intituleùe “Hanoi doit prendre la responsabiliteù de rendre dignement honneur aø  Nguyeãn Thò Loä et aø Nguyeãn Traõi-Ceùleùbriteù culturelle mondiale. Le Prof. Chu Quang Trö Directeur de l’Institut des Beaux Arts du Vietnam est en ce moment aø la dernieøre eùtape du cancer. Au seuil de la mort il nous ecrit encore – ses dernieøres paroles peut-eâtre srties de son coeur- une longue intervention ouø il met enn relief les deux points essentiels  concernant 1) le temple de Nguyeãn Thò Loä et 2)le temple central de Nguyeãn Traõi; en marge du texte il ajoute de sa plume tremblante : “Hanoi a le devoir de rendre dignement honneur aø Nguyeãn Thò Loä et aø la Ceùleùbriteù cuklturelle mondiale Nguyeãn Traõi” avec un poscriptuim :”Cette intervention est eùcrite sur la demande du Comite d’organisation pendant mon hospitalisation; je me repose uniquement sur ma meùmoire et mes sentiments. S’il y a quelques erreurs j’espeøre qu’on me le pardonne.”Heùlas!L’oiseau mourant  pousse des cris d’affection;l’homme mourant dit des paroles de veùriteù.Comment pourrions-nous rester insensibles nous le Comiteù d’organisation et tous les amis ici preùsents devant  un intervention pareille envoyeùe de l’hoâpital par un malade au chevet de la mort?En suivant les indications du Prof. Chu Quang Tröù   nous avons exploreù les endroits ouø se trouvent des vestiges des  temples et pagodons faisant partie du patrimoine culturel au sujet desquels on nous a envoyeù d’autres  interventions :1-Du poeøme “thuû vó ngaâm” dans le Recueil “Quoác aâm thi taäp” aux deux temples de Nguyeãn Traõi et Nguyeãn Thò Loä” de M.Ngoâ Thöùc representant des la famille des Nguyeãn de Nhò Kheâ. . Ngoâ Thöùc est d’avis que  c’eùtait aø Khuyeán Löông que Nguyeãn Traõi avait consulteù les livres des anciens et tireù l’expeùrience des eùveønements preùsents pour eùcrire sa fameuse BÌNH NGOÂ SAÙCH  ( Strateùgie et tactique aø suivre pour la pacification des Ngoâ ( les Minh) et son poeøme connu “Goùc thaønh nam” ( Un coin de la Citadelle du Sud) (comme l’a indiqueù le prof.Chu Quang Tröù)

Les temples de Nguyeãn Traõi-Nguyeãn Thò Loä au village Khuyeán Löông de Nguyeãn XuaânTham habitant du village d’origine de Nguyeãn Traõi: Nhò Kheâ Thöôøng Tín. Plusieurs points de son intervention coincident avec celle de M. Ngoâ Thöùc.3- AØ partir de Laøng Mui (Khuyeán Löông) reùflexions”  de M. Nguyeãn Ñoã Löu. de l’AQssociation des eùcrivains de Hanoi. Il exploite avec beaucoup de preùcision et de profondeur les questions des limites du ville de sa forme physique les probleømes culturels ayant rapport aø la vie de Nguyeãn Traõi-Nguyeãn Thò Loä et au Proceøs du Jardin des Letchis.Traitant de ce sujet il y a encore quelques articles parus dans les journaux:l-“Le temple de Nguyeãn Thó Loä aø Hanoi” Traàn Vaên Myõ Sport-Culture 20/4/1998;2-“L’unique pagodon deùdieù au culte de Nguyeãn Thò Loä aø Hanoi” Hoaøng Ñaïo Chuùc et Ñinh  Coâng Vó revue Xöa va Nay” (Jadis et Aujourd’hui) et Ngöôøi cao tuoåi (Les Personnes aâgeùes). En ce qui concerne les temples et pagodons deùdieùs aø Nguyeãn Thò Loä on peut remarquer que meâme dans son village natal il n’en existe pas.. AØ Hanoi le prof.adjoint  Ytaàn Baù Chi qui a organiseù plusieurs fois pour ses eùtudiants des excursions aø la campagnes en vue d’avoir de nouveaux renseignements sur Nguyeãn Traõi reconnait que Khuyeán Löông est le seul endroit de la Capitale qui ait un pagodon deùdieù aø son culte. Jadis il y en avait un autre aø Haøng Chieáu actuellement tombeù entieøremenet en ruine.En eùtendant nos recherches dans d’autres reùgions du pays Ñinh Coâng Vó et moi nous nous sommes rendus aø la pagode Huy Vaên- laø ouø Nguyeãn Traõi –Nguyeãn Thò Loä et Ñinh Lieät avaient soigneusement assureù la protection de Ngoïc Dao et de son fils alors en embryon le futur Roi Leâ Thaùnh Toân et avons appris qu’ici on fait le culte conjoint des statues de Nguyeãn Traõi et de Nguyeãn Thò Loä. En cherchant dans le livre de Ngoâ Ñöùc Thoï et Nguyeãn Vaên Nguyeân intituleù` “Di tích lòch söû Vieät Nam” (Vestiges historiques du Vietnam EÙditions des Sciences sociales Hanoi 1991) nous avons  constateù que dans le temple de Coân Sôn (appeleù Tö phuùc töï ou Chuøa Hun) outre les statues de Bouddha des trois Anceâtres de Tröùc Laâmet de Traàn Nguyeân Ñaùn il y avaitaussi les statues de Nguyeãn Traõi et de Nguyeãn Thò Lo. Venus laø en perssonne nous avons deùcouvert dans un coin de la maison des anceâtres les deux  statues d’un homme et d’une femme assis les jambes croiseùes les yeux tourneù vers Bouddha. C’eùtait des statues treøs anciennes cacheùs dans le temple au temps de la reùsistance contre les colonialistes français et reùcemment  retouveùes par le Bonze supeùrieur de la pagode. Celui-ci apreøs avoir observeù le jeune et fait ses prieøres de peùnitence a eùcrit le poeøme-quatrain suivant aø l’adresse des geùneùrations aø venir :“Il est laø avec sa belle barbe aø trois touffes majestueusesJambes croiseùes teâte non couverte comme de son vivantLa Dame est assise de la meâme façon preøs de lui silencieuseLe fichu carreù cache aø moitieù son isage en eùcailles et ses cheveux blancs.Il ressort de ce poeøme que Nguyeãn Thò Loä aurait alors  atteint  cet aâge ouø la peau est devenue d’eùcailles et les cheveux blanchis   plus jeune que Nguyeãn Traõi mais de pas beaucoup. comme nous allons en discuter pour prouver la pureteù de ses relations avec Leâ Thaùi Toân.Ainsi le pagodon deùdieù aø Nguyeãn Thò Loä aø Khuyeán Löông n’est pas un lieu de culte unique en son honneur mais Khuyeán Löông est bien l’endroit unique ouø existe encore un pagodon deùdieù aø son cult e.          Qu’en penseront donc les dirigeants de Hanoi et les dirigeants de l’EÙtat quand dans un lieu de culte collectif on avait respectueusement eùleveù des statues pour les honorer alors qu’aø Khuyeán Löông le temple deùdieù personnellement aø Nguyeãn Thò Loä est laø au yeux de tout le monde et l’on n’a pas songeù aø lui faire eùlever une belle statue comme elle le meùrite ? Nous espeùrons que les scientifiques et les eùcrivains preùsents aø cette Confeùrence expriment leurs ideùes aø propos de ce manquement.           Au sujet de Nguyeãn Thò Loä   il  y a de nombreux probleømes urgents aø reùgler. Nous accueillons avec enthousiasme l’intervention treøs riche  dans le contenu et treøs concise danss la forme du Prof. Vuõ Khieâu : “La condamnation injuste de Nguyeãn Thò Loä et les questions qui se posent” et deux autres interventions sur le meïme sujetb: “Nguyeãn Thò Loä une lettreùe de talent un sort douloureux et injuste” du Prof. Phan Huy Leâ et “AØ propos d’un proceøs reùflexion sur la responsabiliteù des historiens”. du Prof. Ñinh Xuaân Laâm.En fait le probleøme de premieøre urgence qui se pose est que l’injustice criante qu’avait subieù Nguyeãn Thò Loõ est resteù jusqu’ici depuis 56o ans sans explication. Bien que le reùgime feùodal n’ait pas reùhabiliteù Nguyeãn Traõi au niveau demandeù la question de rendre justice a Nguyeõn Traõi a toujours eùteù prise prioritairement en consideùration tandis que pour Nguyeãn Thò Loä rien n’a eùteù fait; on lui a preâteù si peu d’attention!  Depuis longtemps sinon depuis toujours on a volontairenment esquiveù la question.. En temps qu’historiens il est extreâmement rare de trouver une personne qui deùfende la cause de Nguyeãn Thò Lo aussi eùnergiquement que l’eùrudit historien Traàn Huy Lieäu. Meme dans la revue “Recherches historiques” (Nghieân cöùu lòch  söû) de l’Institut d’Histoire on ne trouve aø travers des dizaines d’anneùes d’activiteù qu’un seul article de l’eùrudit Leâ Thöôùc “ Essayons de reviser le Proceøs de Nguyeãn Traõi” (Revue Vaên Söû Ñòa 1957 numeùro 24 pages 63-73). On eùvitait de nommer le nom des “criminels-gros bonnets” et laisse tomber la culpabiliteù sur les circonstances iou sur la teâte des complices subalternes : “c’est la faute des agents subalternes” dit-on . C’est laø  une façon astucieuse de la classe au pouvoir pour s’en laver les mains.  Ils craignent qu’en revisant le proceøs de Nguyeãn Traõi-Nguyeãn Thò Loä  n’entraine  d’autres questions encore dont les conseùquences seraient catastrophiques  pour le prestige et l’honneur des grands dignitaires de La Cour.          En vue de deùbloquer cet eùtat de chose l’eùcrivain Hoaøng Quoác Haûi a  fait une intervention     treøs eùloquente : “Acquitteùe Nguyeãn Thò Loä”!    ouø il montre les points irraisonnables et illogique  du Proceøs du Jardin des Letchis jugeù par la haute Cour criminelle sous le reøgne de la “:Meøre du peuple” Nguyeãn Thi Anh. Il a  mis eùgalement en relief eùgaleement  ce qui est illogique et obscur dans l’Histoire nationale de cette eùpoque ayant pour but de calomnier et de  discreùditer Nguyeãn Thò Loä puis il propose des moyens adeùquats pour reùsoudre  ces probleûme  en confeùrence meâme: “Pourquoi la Cour a-t-elle tueù Nguyeãn Traõi et Nguyeãn Thò Loä” Faisant suite aø l’intervention de Hoaøng Quoùc Haûi il y a l’article de l’illustre avocat Nguyeãn Thaønh Vónh “La Cour Populaire Supreâme (du Vietnam) a le devoir de reviser le Proceøs de l’anneùe Nhaâm Tuaát 1442 ; et celeui du veùneùrable Thích Ñöùc Thieän “Les points aø rectifier et aø confirmer sur le sujet de Nguyeãn Traõi et de Nguyeãn Thò Loä” (1)  Dans le meâme sens que les interventions preùdentes Ñinh Coâng Vó avait eùcrit un discours eùloquent “Deùchirer le voile de mensonge autour du Proceøs du Jardin des Letchis.”  lors de la feâte commeùmorative du 560e anniversaire de la mort de Nguyeãn Traõi au Temple de la Litteùrature (Vaên Mieáu) Haønoi et publieù dans Vaên Ngheä numeùro 40 du 20 octobre 2002 (qui lui deùcernait un Prix du 4eø trimestre). L’auteur l’a soigneusement revu et envoyeù aø la Confeùrence

 Le Prof adjoint  Vuõ Huy Phuùc a eùcrit “ Une injustice immeùriteùe contre la Leã nghi hoïc só Nguyeãn Thò Loä  non encore effaceùeä”  Le chercheur litteùraire Giang Quaân de l’Association  de la Litteùrature populaire. de Hanoi a eùcrit  un article “Rendre justice aø Nguyeãn Thò Loä” et  M.Nguyeãn Vaên Thaønh ingeùnieur :”La Reine-Meøre Tuyeân Töø Nguyeãn Thò Anh et les affaires compliqueùes de La Cour”Pour eâtre suffisamment renseigneùs sur Nguyeãn Thò Loä nous devons avoir des documents authentiques originaux surtout les textes Haùn Noâm. Par bonheur on nous a envoyeù des  textes inteùressant :1)- Les documents Haùn Noâm ayant trait aø la vie de la Leã  nghi hoïc só Nguyeãn Thò Lo du Dr Mai Hoàngä;2)- Des poeømes xöôùng hoïa  (1) entre ÖÙc Trai tieân sinh et la Leã nghi hoïc só Nguyeãn Thò Loä  du Prof.adjoint  Dr Nguyeãn Taù Nhi;3)- Des deùtails mentionneùs aø propos de Nguyeãn Thò Loä dans les registres geùneùalogiques de la famille des Nguyeãn de Nhò Kheâ de M.Ngoâ Thöùc. 

Le Dr Mai Hoàng est directrice du Centre de recherche et d’application des eùtudes  geùneùalogiques du Vietnam reùcemment creùeù et expert des histoires des geùnies du Vietnam.. Le prof.Nguyeãn Taù Nhö est un  excellent expert de l’Institut Haùn Noâm. Ngoâ Thöùc est originaire du village natal de Nguyeãn Traõi en meâme temps son arrieøre-descendant; il a depuis de longues anneùes fait des recherches sur la geùneùalogie de la famille des Nguyeãn de Nhò Kheâ. De laø leurs interventions contiennent  des documents preùcieux dignes de confiance. Tout reùcemment le journal “Femmes de la Capitale” a publieù un article de ÖÙc Tung “Hoïc só Nguyeãn Thò Loä trong phaû nhaø hoï Nguyeãn Nhò Kheâ (La lettreùe Nguyeãn Thò Loä dans le registre geùneùalogique de la famille de Nguyeãn de Nhò Kheâ) don’t l’auteur nous a envoyeù une copie. Tous ces articles constituent  un compleùment neùcessaire et de grande utiliteù pour notre  documentation. Nous espeùrons en recevoir d’autres surtout des textes en Haùn Noâm.AØ coâteù des documents eùcrits il y a aussi des documents populaires:-Du proceøs aø l’homme du prof adjoint Vuõ Ngoïc Khaùnh;-Abreùgeùe de l’histoire-anecdote de la lettreùe  Nguyeãn Thò Loä de Nhö Hieân Nguyeãn Ngoïc Hieàn;-Nguyeãn Thò Loä histoire et leùgende du Dr-ess-sciences Phan Ñaêng Nhaät;-La vengeance du serpent ou leùgende de la destineùe tragique d’une femme de vertu de  Kieàu Vaên. Il n’y a pas seulement que la Vengeance  du Serpenrs uil y en a d’autres aussi eùtranges comme les deux leùgendes suivantes se rapportant aø l’eùpoque des Leâ Posteùrieurs et objet de tant de discussions: -La L

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'4642','0pdkhs7planda6durqciojchl6','0','Guest','0','54.80.140.29','2018-08-16 15:04:38','/ac8906/chung.html')